John Dewey: Kinh nghiệm và giáo dục

Phạm Anh Tuấn

Kinh nghiệm và giáo dục (Experience and Education) của John Dewey là một cuốn sách mỏng được xuất bản năm 1938 dựa trên một bài nói chuyện do ông thực hiện cùng năm đó theo lời mời của Hội Kappa Delta Pi. Đây là lần thứ hai John Dewey được Kappa Delta Pi mời nói chuyện về giáo dục. Và mục đích của lần mời này đã được Kappa Delta Pi nêu như sau: “Vì lợi ích của cách hiểu sáng sủa và một sự hiệp lực, Ban Giám đốc của Kappa Delta Pi đã đề nghị Tiến sĩ Dewey đề cập một số vấn đề tranh luận đang chia rẽ nền giáo dục Mỹ thành hai phe và do đó làm cho nền giáo dục này suy yếu vào thời điểm nó cần có trọn vẹn sức mạnh để hướng dẫn một dân tộc đang hoang mang để vượt qua những rủi ro do đổi thay xã hội” (Lời nói đầu của Kinh nghiệm và giáo dục).

Triết gia Mĩ nổi tiếng (có thời gian ông và John Dewey cùng dạy tại Đại học Columbia) là Mortimer J. Adler (1902-2001) trong cuốn sách viết chung với Milton Mayer xuất bản năm 1958 có tên Revolution in Education (Cuộc cách mạng trong giáo dục) đã viết: “Trong vòng chưa đầy 50 năm, kể từ năm 1840 đến 1883, tỉ lệ trẻ em đến trường đã tăng 520 phần trăm…Trong nhiều thế kỷ trước đó, chưa có ai từng mơ tới một thời đại ở đó bất cứ ai là công dân thì đều bắt buộc phải trải qua giáo dục nhà trường. Chưa có ai khi nghĩ tới giáo dục lại dám nghĩ rằng giáo dục nghĩa là giáo dục toàn dân”. Năm 1776, năm ký bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ được coi là cuộc cách mạng thứ nhất của đất nước này. Gần ba chục năm sau cuộc “Cách mạng giáo dục”, nước Mỹ  bước vào cuộc cách mạng thứ ba – cuộc cách mạng công nghiệp, Kỷ nguyên Tiến bộ (Progressive Era), kéo dài từ những năm 1890 cho tới những năm 1920. Một nền kinh tế tự do chưa từng có trong lịch sử nhân loại, đã ra đời. Nền kinh tế này được đặc trưng bởi tính năng động và hiệu quả. Henry Ford (1863 – 1947) với phát minh ra phương pháp sản xuất kiểu dây chuyền lắp ráp (assembly line), Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915) với việc tìm ra những nguyên tắc của “quản lý theo khoa học” (scientific management), đó mới chỉ là kể tới hai gương mặt điển hình của một kỷ nguyên đã đem lại sự thay đổi hoàn toàn cho không chỉ nền công nghiệp của nước Mỹ, mà còn cho toàn bộ nền công nghiệp thế giới.

Một nước Mỹ ngày đó sôi sục với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước , và kéo theo đó là những đổi thay to lớn chưa từng thấy trong xã hội và trong tâm lí cũng như cung cách ứng xử của con người. Vậy mà, nhà trường Mĩ vẫn như kẻ đi dạo, bàng quan với tất cả mọi sự, và hệ quả tất yếu là nhà trường đó mỗi ngày càng trở nên lạc hậu hơn so với xã hội ở bên ngoài. Điều đáng để suy ngẫm là ngay cả những bộ óc thông minh của thời bấy giờ (chẳng hạn như chính Mortimer J. Adler) vẫn không thấy là nhà trường đang lạc hậu! Adler vẫn tiếp tục say sưa với những “chân lí vĩnh cửu”, những “giá trị vĩnh cửu” …tách rời khỏi cuộc sống thực tế, giống như ngày hôm nay ở nền giáo dục của nước ta vẫn có những nhà giáo dục tiếp tục hô khẩu hiệu Chân, Thiện Mỹ, như một cách lảng tránh trách nhiệm nhìn thẳng vào thực tế để giải quyết những bài toán thực tiễn! Vì thế, nhà trường của nước Mĩ vẫn tiếp tục duy trì dai dẳng lối dạy nhồi nhét, áp đặt còn trẻ em thì ghi nhớ thụ động, học vẹt.

Vào những năm cuối thế kỉ 19, một trào lưu cải cách sư phạm xuất hiện ở Mĩ, trào lưu này được gọi tên là tân-giáo dục (progressive education). Tân-giáo dục được xem là một sự đoạn tuyệt về “triết học” với nhà trường cổ truyền, đặc biệt là nhà trường của thế kỉ 19, và có ảnh hưởng rất lớn về mặt “tư tưởng” tới nhà trường tiến bộ sau này.

John Dewey, sinh năm 1859, mất 1952, triết gia theo thuyết hành dụng (pragmatism), sau này ông phát triển con đường riêng là công cụ luận (instrumentalism), được coi là cha đẻ của trào lưu tân-giáo dục. Có thể lướt qua một số nét trong cốt lõi tư tưởng của tân-giáo dục qua tác phẩm có tính tuyên ngôn của John Dewey (xuất bản năm 1897) có nhan đề Tín điều sư phạm của tôi (My Pedagogical Creed):

– Giáo dục là sự tham gia của cá nhân vào ý thức của chủng tộc. Quá trình này gồm hai mặt: mặt tâm lí và mặt xã hội, trong đó mặt tâm lí là cơ sở. Vì thế những gì trẻ em học đều có một điều kiện bắt buộc là phải mang tính xã hội. Nhà trường có nhiệm vụ chuẩn bị những điều kiện cho trẻ em tự mình tạo dựng kiến thức cho chính mình bằng toàn bộ các công cụ của chúng: đôi mắt, đôi tai, đôi tay, đôi chân … và công cụ quan trọng số một là tư duy. Để cho trẻ em phát triển hết tầm, sẵn sàng sử dụng mọi công cụ của mỗi em, đó chính là sự chuẩn bị đích thực cho cuộc sống tương lai.

– Giáo dục thất bại là bởi vì nó coi nhẹ nguyên lý căn bản nói trên. Trường học không phải là nơi để người lớn dạy cho trẻ em các bài học, bài học kiến thức lẫn bài học luân lý, mà trường học là một hình thái của đời sống cộng đồng. Do đó, giáo dục là bản thân quá trình sống của trẻ em chứ không phải là một sự chuẩn bị cho một cuộc sống tương lai mơ hồ nào đó.

– Nội dung của giáo dục hoặc chương trình học phải phản ánh sự phát triển của loài người. Vì thế nội dung phải mang tính tăng tiến. Tức là chương trình học phải hiện đại lên cùng với sự phát triển của loài người.

– Phương pháp là phương pháp của năng lực và hứng thú của trẻ em là những cá nhân đang trưởng thành, chứ không phải là phương pháp của người lớn, những người đã trưởng thành. Người thầy không phải là một vị quan tòa, một quyền uy độc đoán trong lớp học, mà người thầy là một thành viên của cộng đồng lớp học. Vì thế phương pháp sẽ là cái gì đó tự nhiên, không cản trở sự phát triển tự nhiên ở trẻ em, không thay thế trẻ em bằng những ông cụ non.

– Giáo dục là phương pháp căn bản của tiến bộ xã hội. Giáo dục là phương pháp cải tạo xã hội chắc chắn nhất.

Và đây là những câu kết luận của John Dewey:

– mỗi người thầy nên nhận thức rõ phẩm giá nghề nghiệp của mình; rằng anh ta là một nô bộc xã hội được giao riêng nhiệm vụ duy trì trật tự xã hội thích hợp và đảm bảo sự phát triển xã hội đúng đắn.

– theo cách này, người thầy mãi mãi là nhà tiên tri của Thượng đế đích thực và là người trợ giáo trong vương quốc đích thực của Thượng đế.

Khi một cái mới xuất hiện thì bao giờ cũng tất yếu xảy sự xung đột giữa nó với cái cũ. Và sự xung đột này cũng tất yếu được thể hiện bằng những cuộc tranh luận triền miên giữa hai phe tư duy giáo dục. Song, đặc điểm của tình hình giáo dục ở nước Mĩ nhưng năm đó là: cả hai phe đều tự cho là mình đúng, mình giỏi hơn phe kia. Thật vậy, ngoài Mortimer J. Adler lừng danh như vừa được nhắc tới ở trên còn có rất nhiều nhân vật có uy tin khác trong nền giáo dục thời đó, trong đó có hai hiệu trưởng của Đại học Chicago (nơi John Dewey dạy học và mở trường thực nghiệm) đã chống lại John Dewey và trào lưu tân-giao dục rất kịch liệt. Mặt khác, như John Dewey cảnh báo trong Kinh Nghiệm và giáo dục, những người thuộc phe tân-giáo dục trong tâm trạng hào hứng muốn có sự thay đổi thật nhanh nên họ đã phủ nhận hoàn toàn nền giáo dục cổ truyền mà không có bất kỳ một cái mới thực sự nào để thay thế cho cái mà họ phủ nhận. Vì thế, toàn bộ những gì mà họ có thể làm chỉ dừng ở nói “không” với cái cũ chứ không thể làm ra một cái “có” nào đó mới. Và do đó, toàn bộ những gì họ cần làm chỉ đơn giản là “không làm theo những gì mà nền giáo dục cổ truyền đã làm” (Kinh nghiệm và giáo dục).

Song, mặc dù John Dewey phê phán tình trạng tranh cãi triền miên của cả hai phe giáo dục, nhưng điều đó hoàn toàn không có nghĩa ông muốn tìm một đường lối trung dung hoặc một sự thỏa hiệp giữa các phe phái. Lời kêu gọi “hiệp lực” của ông nhắm tới sự cùng nhau làm ra một thực tiễn mới mẻ đi từ những quan niệm mới mẻ: một điều gì đó tích cực.

Và, ngay cả ở đây nữa, ông cũng không kêu gọi chung chung, kêu gọi để cho có, mà ông đề ra cách làm tích cực và cụ thể. Cách làm đó đi từ một triết lý giáo dục hoặc lí luận dạy học dựa trên triết học kinh nghiệm (philosophy of experience). Trong khuôn khổ của cuốn sách (vốn dựa trên một bài nói chuyện chỉ trong mấy tiếng đồng hồ cho một cử tọa không phải là giới chuyên gia) ông không thể trình bày cặn kẽ triết lý giáo dục này. Và cũng không thể trình bày hết được triết lý giáo dục này chỉ trong một bài giới thiệu ngắn. Chỉ dám được chia sẻ thật vắn tắt chỉ một phần nào cái lõi triết học của triết lý giáo dục này như sau: việc học của trẻ em phải đi từ trải nghiệm của chúng. Trải nghiệm vừa là nội dung vừa là phương pháp (đúng như tình thần John Dewey luôn tìm cách phá bỏ mọi quan niệm chia cắt nhị nguyên: tinh thần với thể xác, trí dục với đức dục, kỉ luật xã hội với tự do cá nhân v.v.). Không có nội dung hoặc giá trị giáo dục hoặc hệ giá trị bản thân mang tính tuyệt đối, bất biến được áp đặt từ bên ngoài cho trẻ em. Mọi thứ đều phải do từng cá nhân trẻ em tự mình tìm ra. Khi trẻ em tự mình trải nghiệm thì chúng mới tìm ra được giá trị của điều chúng trải nghiệm, bởi vì giá trị tức là điều được thấy trong khi cảm thụ, đánh giá cao (appreciation) hoặc đánh giá thấp (depreciation) một sự vật chứ không phải là giá trị tự thân, giá trị nằm bên trong sự vật (intrinsic value). “Ngon” và “bổ” là giá trị tự thân, giá trị bên trong, chẳng hạn, của thịt bò. Nhưng chỉ khi một người ăntiêu hóa thịt bò thì mới thấy được giá trị “ngon” và “bổ” đó. Lúc này giá trị là giá trị công cụ (instrumental value). Do đó, giá trị (value) là cái được tìm ra chứ không phải là giá trị cố hữu, giá trị bên trong, kết quả có sẵn. Cũng vậy, mỗi một môn học trong nhà trường đều không có giá trị tự thân, không có môn học nào giá trị hơn bất kì một môn học nào khác. Trong giáo dục, mọi mục đích đều là mục đích trong sự giả thuyết (end-in-view), không có mục đích có tính tuyệt đối, bất biến, được làm sẵn. Nói ngắn gọn, nhà trường không thể dạy theo cách bê nguyên xi nội dung, giá trị của người lớn sang áp đặt cho trẻ em.

Các nhà nghiên cứu hoặc những ai lưu tâm tới vấn đề này có thể tìm đọc thêm trong các tác phẩm chủ yếu của ông như How we Think (Cách chúng ta nghĩ), xuất bản năm 1910; Democracy and Education (Dân chủ và giáo dục) xuất bản năm 1916, đã được dịch sang tiếng Việt; Theory of Valuation (Thuyết giá trị) xuất bản năm 1939 và rất nhiều tiểu luận chuyên đề triết học giáo dục và giáo dục được tập hợp trong cuốn John Dewey On Education (Về giáo dục) xuất bản năm 1964, đã được dịch sang tiếng Việt.

Gần một trăm năm đã trôi qua, Kinh nghiệm và giáo dục của John Dewey vẫn tiếp tục có sức sống. Con đường của ông cũ mà không cổ hủ bởi nó như tấm gương để ngày hôm nay chúng ta soi vào thấy hiện ra diện mạo đích thực của chính mình.

Con đường của Kinh nghiệm và giáo dục bắt đầu bằng:

Con người ưa suy nghĩ theo những điều đối lập cực đoan. Con người có thói quen phát biểu niềm tin theo lối Hoặc này – Hoặc kia, giữa những lựa chọn đó con người không thừa nhận bất kỳ khả năng trung gian nào. Khi bị buộc phải thừa nhận rằng không thể làm theo những thái cực đó, con người vẫn sẵn sàng cho rằng chúng là chấp nhận được trên lý thuyết, song hoàn cảnh buộc chúng ta phải thoả hiệp khi gặp phải những vấn đề thực tiễn.

Và kết thúc:

Tôi hi vọng và tin rằng, tôi không ủng hộ bất kỳ mục đích hoặc phương pháp nào chỉ bởi vì có thể gắn cho nó cái tên “tiến bộ”. Vấn đề căn bản nằm ở bản chất của giáo dục mà không có những tính từ bổ nghĩa đứng ở trước. Điều chúng ta mong muốn và đòi hỏi là giáo dục phải được hiểu theo nghĩa thuần khiết và giản dị, và chúng ta nhất định sẽ tạo ra sự tiến bộ chắc chắn và nhanh chóng hơn nếu như dành toàn bộ nỗ lực vào việc tìm ra chỉ một điều này: giáo dục là gì và những điều kiện nào cần phải được thỏa mãn để giáo dục có thể trở thành một thực tế chứ không phải một cái tên gọi hoặc một khẩu hiệu.”

Ở Việt Nam, từ đầu những năm 1940, John Dewey đã được giới thiệu qua một bài báo của Vũ Đình Hòe trên tạp chí Thanh Nghị do ông làm chủ bút (Vũ Đình Hòe là bộ trưởng giáo dục đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Gần 70 năm sau, John Dewey được dịch sang tiếng Việt, đầu tiên là cuốn sách được coi là quan trọng nhất của ông: Dân chủ và giáo dục – một dẫn nhập vào triết lý giáo dục (Phạm Anh Tuấn dịch, nhà xuất bản Tri thức xuất bản năm 2008), và lần này là bản dịch độc giả đang cầm trên tay, Kinh nghiệm và Giáo dục. Chúng tôi hi vọng, qua bản dịch này, bài học được rút ra từ Kinh nghiệm và giáo dục của John Dewey có thể được lắng nghe bởi tất cả các nhóm quan điểm cải cách khác nhau trong sự nghiệp xây dựng giáo dục Việt Nam tại thời điểm khó khăn chưa từng thấy như hiện nay: làm ra một điều tích cực là chống tiêu cực mạnh mẽ nhất.

Link: http://phamanhtuanhn.wordpress.com/2012/02/13/john-dewey-kinh-nghi%E1%BB%87m-va-giao-d%E1%BB%A5c-b%E1%BA%A3n-d%E1%BB%8Bch-ra-m%E1%BA%AFt-thang-2-nam-2012/

Tạp chí Tia sáng đăng lại ở link: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=4932

+ + + + +

Một bài viết khác JOHN DEWEY: Văn hóa không phải là quay về học thuộc lòng các ”điển phạm”!

Người ta có thể đoán trước thế nào cũng nảy sinh sự chế nhạo trong những khu vực nào đó theo sau tuyên bố rằng giáo dục văn hóa là chủ đề trung tâm của cuộc họp lần này của Hiệp hội Giáo dục Quốc gia [Hoa Kỳ]. Văn hóa thì có gì liên quan đến những công việc hằng ngày của hàng triệu học sinh và giáo viên đang mệt mỏi vì công việc nhàm chán là kết hợp các chữ cái và làm tính? Có mối liên hệ nào giữa văn hóa và những đề cương lịch sử và văn học khô khan? Tới nay, tình hình có thể được gọi là thảm hại chứ không còn là dịp để châm biếm nữa. Nhưng người ta có thể biết trước rằng những người phê phán, những người tự cho mình là những cứu tinh còn sót lại, vẫn đang tiếp tục phẫn nộ lên án việc hệ thống giáo dục của chúng ta tự nguyện đầu hàng những mục đích thực dụng, tự bán rẻ mình vì những yêu cầu nhất thời và hô hào ủng hộ giáo dục thực hành. Hoặc có lẽ việc chọn giáo dục văn hóa làm một chủ đề thuyết trình sẽ được chào đón như là một dấu hiệu của sự hối hận muộn màng, trong khi đó những người phê phán mạnh mẽ hơn thì buồn phiền tự hỏi phải chăng sự quay trở lại với những lối mòn cũ an toàn đã được nhận ra quá muộn .

Đối với những ai tiếp xúc gần gũi hơn với những quan điểm chi phối một cách hữu thức những suy nghĩ của đại bộ phận giáo viên và những người quản lý giáo dục thì đều thấy rằng có điều gì đó khôi hài trong giả thuyết cho rằng họ đang bị đắm đuối vào sự sùng bái nền giáo dục mang tính huấn luyện nghề nghiệp và phục vụ nền sản xuất. Chuyến đi hằng năm của giáo viên nước ta tới những nhà thờ và phòng tranh nghệ thuật tại châu Âu là chỉ dấu cho thấy họ đề cao có ý thức cái lý tưởng cũ hơn về văn hóa. Chẳng điều gì góp phần tập hợp giới giáo viên thật nhanh chóng bằng kiểu thảo luận có sự tham gia của những người phê phán. Những học thuyết lỗi thời và thái độ tình cảm chủ nghĩa là những điều được thấy có chung ở những người phê phán còn những người làm việc tích cực thì bị chỉ trích. “Văn hóa và kỷ luật” được dùng như là những biểu tượng về một sự ưu việt được hy vọng hoặc đạt được, và như là những khẩu hiệu để tránh cho sự phiền phức của sự suy tưởng cá nhân. Đằng sau điều này dường như có một cảm giác về sự khiếm khuyết nào đó trong thái độ sùng bái của chúng ta đối với nền văn hóa quá khứ. Chúng ta phản đối quá nhiều. Cách bộc lộ của chúng ta để lộ sự lúng túng của một thái độ phản kháng được duy trì một cách không tự nhiên. Trái lại, có sự tự nhiên trong sự thô lỗ tự phát ở những người bán khai buông thả hoàn toàn trong tình trạng dã man của họ.

Mặc dù tất cả những người phê phán đều nhầm về thái độ và mục đích hữu thức của những người đang quản lý nền giáo dục của chúng ta, nhưng họ đã đúng khi đề cập những trào lưu giáo dục gây tác động mạnh mẽ hiện nay. Các trào lưu này không thể được gọi là văn hóa – dù đánh giá bằng bất cứ tiêu chuẩn nào được tìm thấy trong quá khứ. Bởi vì những tiêu chuẩn đó liên quan đến quá khứ – những gì đã được phát biểu và suy tưởng –– trong khi đó cái gì đang tồn tại sống động và không thể cưỡng lại nổi trong nền giáo dục của chúng ta lại đang vận động đi tới một tương lai chưa được khám phá. Sự hoang mang và sự bất kiên định không lối thoát của chúng ta có nguyên nhân từ sự mâu thuẫn nói trên giữa những lý tưởng hữu thức của chúng ta và những khuynh hướng hành động của chúng ta. Chúng ta cho rằng chúng ta đang nghĩ tới một điều trong khi những việc làm của chúng ta lại đòi hỏi chúng ta phải lưu tâm tới một loạt những vấn đề hoàn toàn khác. Tình trạng câu thúc tinh thần này là kẻ thù đích thực của nền văn hóa của chúng ta. Văn hóa sẽ bắt đầu bằng việc chấm dứt những lời tụng ca ai oán về một nền văn hóa đã qua, những lời tụng ca đó chỉ vọng xa vài mét trước khi bị nhấn chìm trong sự huyên náo của cuộc sống hôm nay [tức “văn hóa” chỉ tồn tại trong trường học], và cố gắng nhìn thấu bằng trí tưởng tượng vào bên trong điều gì nhất định tiếp tục diễn ra dẫu cho còn rất sơ khai và thô thiển.

Sự vênh nhau giữa xu hướng thực tế và lòng trung thành hồi cố chứa đựng bên trong nó toàn bộ vấn đề của giáo dục văn hóa. Nếu đánh giá trên những phương diện khác chứ không phải trên phương diện của một tiềm năng nào đó cho đến nay vẫn chưa thực hiện được của những ảnh hưởng đang diễn ra khiến cho nền văn hóa bị cô lập phải lùi bước trong nỗi sợ hãi, thì sự nghiệp của văn hóa trong chừng mực liên quan tới nền giáo dục công lập, khó tránh khỏi bị lên án. Quả thật, văn hóa hầu như chỉ tồn tại trong những trang sách của Paul Elmer More (1864-1937): học giả và nhà phê bình nổi tiếng người Mỹ, được coi là người chủ xướng trào lưu Tân-Nhân văn (new humanism), chủ trương quay lại với những tiêu chuẩn truyền thống [ND]  cùng những học trò và những người ủng hộ ông. Câu hỏi nghiêm túc, là liệu chúng ta có thể ủng hộ hay không những sức ảnh hưởng sống động đó để chúng biến đổi thành những hình thái mới mẻ của tư duy và tình cảm. Sẽ là độc ác nếu bất lực hoàn toàn trong việc đánh giá những nỗ lực giáo dục sai lầm hiện nay bằng những quan niệm có nguồn gốc của ngày hôm qua khi cần thiết phải có một sự lý giải tư tưởng hóa những sự kiện sẽ làm chúng ta nhận ra những mối quan tâm mà nền văn hóa cũ hơn coi đó là thuần túy liên quan đến vật chất, và nhận biết được những vấn đề thuộc về con người và luân lý trong cái tưởng như đơn thuần là những sức mạnh vật chất của nền sản xuất.

Một nền văn hóa được lột bỏ những ảo tưởng ích kỷ sẽ bắt đầu bằng sự nhận thức rằng cho đến lúc này chúng ta chưa có văn hóa: rằng văn hóa là cái phải đạt tới, phải tạo ra. Nhận thức này đem lại giá trị đại diện cho cuộc gặp gỡ toàn quốc lần này của giáo viên. Những thầy cô giáo của chúng ta được xem như đang phiêu lưu tìm kiếm cái còn chưa xuất hiện song có thể được làm cho xuất hiện. Trên thực tế họ không tham gia vào việc duy trì một nền văn hóa bị tách biệt đang chống lại những sự đột nhập dữ dội của nước Mỹ duy vật chất và thực dụng. Họ đang nỗ lực, trong chừng mực họ không nhắc lại những câu nói mà ý nghĩa của chúng đã bị lãng quên, biến đổi ngay chính những sự ảnh hưởng này thành tư tưởng và tình cảm. Sự nghiệp này mang những tầm vóc anh hùng. Để đào tạo những con người trở thành người bảo vệ chủ nghĩa kinh điển đang co lại thì chỉ đòi hỏi những sự ngẫu nhiên may rủi của một nền giáo dục đào tạo những con người thông thái, có thời gian nhàn rỗi và khả năng ghi nhớ đủ để ăn nói hoặc viết lách thế nào đó. Để biến đổi một xã hội được xây dựng trên một nền sản xuất cho đến lúc này còn chưa nhân đạo để nó trở thành một xã hội biết sử dụng tri thức và sức mạnh của nền công nghiệp vì lợi ích của một nền văn hóa mang tính dân chủ, đòi hỏi lòng can đảm xuất phát từ một trí tưởng tượng đầy sáng tạo.

Tôi thuộc số những người cho rằng sự sát hạch và biện minh duy nhất của mọi hình thái chính trị-kinh tế của xã hội là sự đóng góp của hình thái đó cho nghệ thuật và khoa học – cho cái có thể được phép gọi thẳng là văn hóa. Bảo rằng nước Mỹ cho tới nay vẫn chưa tự biện minh cho chính nó theo cách như vậy, là điều quá hiển nhiên đến mức thậm chí không thể than vãn được nữa. Thanh minh rằng cuộc chinh phục một lục địa về mặt đất đai tự nhiên phải được hoàn thành đầu tiên, là một luận điểm bị đảo ngược. Chinh phục một lục địa tức là lập lại trật tự cho trí thông minh vĩ đại và nghệ thuật vĩ đại, và đây là công việc tiếp theo của cuộc chinh phuc, chứ không phải xảy ra trước cuộc chinh phục. Chứng minh được điều này vì thế là vô cùng khó. Bởi vì điều này đơn thuần nghĩa là sự khám phá và vận dụng một phương pháp chinh phục và hòa giải với tự nhiên vì lợi ích của một nền dân chủ, tức là lợi ích của số đông của một cộng đồng có tư tưởng và tình cảm được hướng dẫn bất chấp việc họ là số đông. Bảo rằng điều này cho đến nay vẫn chưa xảy ra, là điều khỏi cần phải nói. Cho đến nay người ta thậm chí chưa bao giờ có ý định làm điều đó. Vì thế những cố gắng của chúng ta được đánh giá bằng những tiêu chuẩn rất ít phù hợp được truyền lại từ những nền văn hóa có giai cấp trong quá khứ.

Nói rằng thực hiện được điều nói trên là điều vô cùng khó khăn nghĩa là chúng ta có thể thất bại. Không có thành công được định đoạt chắc chắn trước. Nhưng thất bại, nếu như nó xảy ra, sẽ là đề tài của bi kịch chứ không phải là đề tài của sự than vãn tự mãn cũng không phải là đề tài để châm biếm có chủ tâm. Bởi vì mặc dù thành công là điều không được định đoạt trước, nhưng có những sức mạnh tương tự định mệnh diễn ra không phụ thuộc vào sự lựa chọn hoặc mong muốn hữu thức. Không phải là ý định hữu thức, dù đó là ý định sai lầm hay khôn ngoan, đang cưỡng ép cái thực hành, thực dụng, công nghiệp đi vào nền giáo dục. Khi những hiệu trưởng đại học dành trọn ngày phát bằng tốt nghiệp cho việc hát to những lời tán dương văn hóa tinh hoa trong khi hằng ngày họ lại ủng hộ những trường kỹ thuật và chuyên ngành, thì điều đó không phải xuất phát từ sự cân nhắc hữu thức của họ. Khi những hiệu trưởng trường phổ thông trong diễn văn trịnh trọng tại những cuộc họp của giáo viên đã ủng hộ kỷ luật và văn hóa kiểu cũ nhưng trong khi ấy họ lại yêu cầu được ban giám đốc nhà trường cung cấp trang thiết bị mới, cung cấp chương trình và môn học mang tính “thực dụng” hơn và hấp dẫn hơn, thì điều đó không xuất phát từ sự ưu tiên có chủ tâm của họ. Những ảnh hưởng chính trị và kinh tế hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của họ đang ép buộc những điều đó xảy ra. Và những ảnh hưởng này vẫn tiếp tục nằm ngoài tầm kiểm soát của bất cứ ai trong chúng ta nếu như con người không thành thật đối mặt với những thực tại và bận tâm tới việc tìm hiểu xem họ đang cung cấp giáo dục gì và văn hóa nào có thể ra đời từ sự vun bồi của họ.

Những khuynh hướng đang diễn ra hiện nay trong nền giáo dục Mỹ có thể được thẩm định xét như chúng là những yếu tố của sự nghiệp vĩ đại nói trên. Bởi vì chúng ta không thể xin xỏ hay vay mượn một nền văn hóa mà không phản bội lại nền văn hóa đó lẫn bản thân chúng ta, cho nên chỉ còn lại cách duy nhất là phải làm ra một nền văn hóa. Những ai quá nhu nhược hoặc quá cầu kỳ kiểu cách để không thể tham gia vào công cuộc này thì họ sẽ vẫn tiếp tục tìm kiếm những nhà dưỡng lão và nhà thương được họ lý tưởng hóa thành những tòa lâu đài. Số khác sẽ hoặc làm theo cách của họ song vẫn bị mắc vào cạm bẫy của một chủ nghĩa công nghiệp máy móc, hoặc họ sẽ chinh phục cỗ máy công nghiệp đó vì  những mục đích của con người cho đến khi dân tộc tìm thấy tâm hồn.

Những điều cũ rích nào đó cần được nhắc đi nhắc lại cho đến khi ý nghĩa của chúng được thừa nhận. Cuộc cách mạng công nghiệp ra đời từ khoa học tự nhiên mới mẻ. Mọi nền dân chủ không chỉ đơn thuần là một sự mô phỏng một chính quyền cộng hòa cổ xưa nào đó đều phải được sinh ra từ trong lòng chủ nghĩa công nghiệp hỗn loạn của chúng ta. Khoa học cho phép dân chủ xảy ra bởi vì khoa học đem lại sự giải phóng khỏi sự phụ thuộc vào lao động của số đông, bởi vì khoa học thay thế năng lượng cơ bắp của con người bằng những sức mạnh vô tri vô giác, và bởi vì khoa học tạo ra những nguồn tài nguyên cho sản xuất dư thừa và sự phân phối dễ dàng. Nền văn hóa cũ bị lên án bởi vì nó được xây dựng trên một sự liên minh giữa quyền lực chính trị và quyền lực tinh thần, một trạng thái cân bằng của giai cấp cai trị và giai cấp nhàn rỗi, những điều nay đã không còn tồn tại nữa. Những ai phàn nàn về những điều thô lỗ và hời hợp về tư tưởng và tình cảm đánh dấu ngày hôm nay của chúng ta thì họ hiếm khi đủ vô nhân đạo để ước ao chế độ cũ quay trở lại. Họ chỉ đơn thuần không đủ thông minh nên mới mong muốn một kết quả mà không cần có những điều kiện đã từng sản sinh ra kết quả ấy, và bất chấp những điều kiện sản sinh ra kết quả đó nay đã không còn tồn tại nữa.

Nói ngắn gọn, nền văn hóa của chúng ta phải hòa hợp với nền khoa học duy thực và với nền công nghiệp máy móc, thay vì chạy trốn khỏi chúng. Và mặc dù chẳng có gì đảm bảo rằng một nền giáo dục sử dụng khoa học và vận dụng những quá trình có kiểm soát của nền công nghiệp như là một phần trang bị chính thức của nó sẽ nhất định thành công, song lại có mọi sự đảm bảo rằng một thực tiễn giáo dục đặt khoa học và nền công nghiệp đối lập lại với những lý tưởng của nó về văn hóa, chắc chắn sẽ thất bại. Khoa học tự nhiên trong những ứng dụng của nó vào sản xuất và trao đổi kinh tế đã sản sinh ra một nền sản xuất và một xã hội trong đó chỉ có số lượng dường như mới là điều quan trọng. Giáo dục có nhiệm vụ đem ánh sáng của khoa học và sức mạnh của lao động tới giúp cho mọi tâm hồn mà nó có thể phát hiện ra phẩm chất của tâm hồn đó. Bởi vì trong một xã hội mang tinh thần dân chủ thì mỗi cá nhân sẽ làm ra nét độc đáo. Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, văn hóa sẽ là thành tựu của cá nhân chứ không phải là tài sản chung của một giai cấp. Một nền giáo dục phù hợp với những mục đích lý tưởng của chúng ta là một vấn đề của những sức mạnh thuyết phục có thực chứ không phải sức mạnh của những quan điểm.

Nền giáo dục công lập của chúng ta là phương tiện tiềm năng để tạo ra sự biến đổi cái cơ học của đời sống hiện đại thành tình cảm và trí tưởng tượng. Có thể, tôi xin nhắc lại, chúng ta không bao giờ thoát khỏi cái cơ học này. Con người chúng ta có thể vẫn tiếp tục khỏe mạnh vạm vỡ, chỉ đơn thuần tràn đầy sức sống, dồn hết năng lượng vào việc kiếm tiền, tìm kiếm khoái lạc và lần lượt giành những thắng lợi nhất thời này đến thắng lợi nhất thời khác. Ngay cả một hoàn cảnh như vậy cũng vẫn có một sức sống mà ta không tìm thấy ở một nền văn hóa mà phương pháp của nó là sự hồi tưởng, và sự thắng lợi của nó nằm ở việc tìm thấy một nơi để ẩn náu. Nhưng chứng minh một nền dân chủ xét như tương phản lại những chế độ quý tộc tốt đẹp nhất trong quá khứ là chưa đủ, cho dù việc quay lại với chúng là điều vĩnh viễn không thể xảy ra. Làm cho thế hệ đến sau nhận ra điều gì đó mang ý nghĩa tiềm tàng của đời sống ngày hôm nay, biến điều đó từ chỗ là dữ kiện bên ngoài thành sự nhận thức bằng trí thông minh, chính là bước đầu tiên để tạo ra một nền văn hóa. Những người thầy giáo đang đối mặt với thực tế này và họ đang cố gắng sử dụng những phương tiện vật chất cần thiết của ngày hôm nay như là phương tiện để tạo ra sự nhận thức về một ý nghĩa con người cho tới lúc đó còn chưa được nhận ra, tức là họ đang tham gia vào hành động sáng tạo nói trên. Nhân danh văn hóa để kéo dài mãi cái truyền thống tách rời văn hóa với khoa học thực dụng và nền sản xuất có sức ảnh hưởng to lớn tức là cho phép khoa học và nền công nghiệp có toàn quyền diễn ra dưới hình thái phi văn hóa nhất. Nền giáo dục ngày nay với những xu hướng thực dụng khắt khe và dung tục không cần đến sự mắng mỏ, cái nó cần là lòng cảm thông và sự hướng dẫn lòng cảm thông.

Phạm Anh Tuấn dịch (từ tập tiểu luận Characters and Events xuất bản năm 1929

Link: http://phamanhtuanhn.wordpress.com/2012/02/12/john-dewey-van-hoa-khong-ph%E1%BA%A3i-la-quay-v%E1%BB%81-h%E1%BB%8Dc-thu%E1%BB%99c-long-cac-di%E1%BB%83n-ph%E1%BA%A1m/

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: