“Nô lệ” văn hóa – Thái Nam Thắng

Sự dễ dãi, chiều lòng theo những xu hướng phô trương, khoe mẽ, được núp dưới những mỹ từ “công đức” luôn đánh lừa mọi người, lệ thuộc đến mức đánh mất cả chính mình, đánh mất văn hóa của dân tộc mình. Đất nước không có chiến tranh, không có áp đặt văn hóa, nhưng từ những việc làm vô ý thức, sẽ dẫn tới thành…nô lệ văn hóa.

Một sự ngộ nhận văn hóa

Gần đây, dư luận rất quan tâm đến việc tìm phương án khả dĩ để trùng tu chùa Một Cột (Liên Hoa đài). Vì là một di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia, nên những thay đổi của ngôi chùa này luôn thu hút sự chú ý của mọi người, từ việc chùa xuống cấp cho đến việc người ta đem những thứ văn hóa xa lạ xếp đặt vào đó.

Chúng tôi từng có lần đề cập đến thực trạng vay mượn, sao chép một cách tùy tiện những sản phẩm văn hóa ngoại nhập và mong muốn mọi người dũng cảm loại bỏ những sản phẩm văn hóa xa lạ với phong cách thẩm mỹ của người Việt ra khỏi các công trình kiến trúc tôn giáo (*).

Bởi với bất cứ lý do gì, dù là một ngôi chùa mới xây, những yếu tố xa lạ với văn hóa, kiến trúc, điêu khắc Phật giáo Việt Nam mà được đưa vào công trình cũng sẽ gây phản cảm, huống chi điều đó xảy ra với một ngôi chùa cổ, là biểu tượng tâm linh cho dân tộc, trải nhiều thế kỷ thăng trầm mà vẫn khẳng định bản sắc văn hóa độc đáo của người Việt.

Thật ngạc nhiên, sự ngộ nhận văn hóa vẫn còn tiếp diễn, khi mới đây người viết đọc được bài phỏng vấn của một tờ báo mạng về chùa Một Cột hiện nay. Bài phỏng vấn cho thấy kiến thức về văn hóa của một vị trụ trì là rất đáng báo động, do không ý thức được vị trí văn hóa lịch sử, tâm linh của di sản này trong lòng Thủ đô Hà Nội, nên phát ngôn tùy tiện. Nhất là đây lại là ngôi chùa có vị trí đặc biệt đối với tâm hồn, tình cảm của người Việt.

Người viết xin dẫn lại hai điểm mà dư luận quan tâm đến chùa Một Cột: Đó là sự xuất hiện đèn chùm kiểu Tây và sư tử đá theo mẫu Trung Quốc. Thông thường, các nhà chùa vui mừng khi một người nào đó phát tâm tiến cúng những sản phẩm văn hóa có giá trị vào chùa. Tuy nhiên, sản phẩm ấy cần phải thích hợp với không gian văn hóa và kiến trúc của ngôi chùa.

Bởi một ngôi chùa có giá trị văn hóa lịch sử đặc biệt như chùa Một Cột, hàng năm thu hút rất nhiều du khách quốc tế đến tham quan, thì những giá trị gốc, tiêu biểu, độc đáo mang phong cách của người Việt phải được phát huy tối đa. Không thể tùy tiện đặt bất cứ sản phẩm công nghiệp phương Tây nào vào, cho dù chúng có giá bạc tỷ.

Ngôi chùa đó là ngôi chùa của quốc gia, Thế nên, không thể chấp nhận một di sản văn hóa quan trọng, độc đáo vào bậc nhất cả nước lại được thêm thắt những sản phẩm văn hóa chắp vá, lai căng.

Còn nữa, khi phóng viên hỏi về đôi sư tử đá Trung Quốc, thì nhận được một câu trả lời hết sức sai lệch, và ngụy biện: “Ở Việt Nam bình thường dùng hai con chó đá giữ nhà, nếu cho rằng dùng sư tử mang văn hóa Trung Hoa thì phải hiểu là Phật giáo của Việt Nam là Phật giáo Đại thừa du nhập từ Trung Quốc“.

Những ai từng được học lịch sử Phật giáo Việt Nam đều biết Phật giáo (cả Nam lẫn Bắc truyền) được du nhập vào Việt Nam theo ngả nào. Và Phật giáo thời Lý – Trần dù có sự ảnh hưởng nhất định bởi Thiền tông Trung Hoa, nhưng những phong cách kiến trúc, thẩm mỹ, điêu khắc chưa từng “là một” với Trung Hoa bao giờ.

Chính sự hiện diện của chùa Một Cột cho đến hôm nay và vô số những di chỉ khảo cổ trên khắp mọi miền đất nước đã chứng minh điều đó.

Điêu khắc sư tử đá có trong kiến trúc cổ Ấn Độ và là mô-típ quen thuộc trong kiến trúc Phật giáo ở nhiều quốc gia. Nhưng điêu khắc sư tử Việt, Chăm, Hoa, Khơ-me đều có những phong cách riêng. Các mẫu sư tử có từ thời Lý, Trần, Lê, Mạc, Lê trung hưng mà chúng tôi từng tìm hiểu đều có phong cách riêng, không lẫn với bất cứ quốc gia nào.

Sẽ chẳng có vấn đề gì, nếu những sư tử mang phong cách của người Việt xuất hiện một cách hài hòa trong các công trình kiến trúc Phật giáo. Hài hòa thì phải tương thích với không gian, từ màu sắc, kích cỡ cho đến dụng ý sắp đặt.

Chùa Một Cột khá nhỏ, nhưng gần đây nhìn vào mặt tiền bỗng thấy ngay đôi sư tử màu trắng to vật vã án ngữ, gây choán không gian và làm cho lệch tông trong kiến trúc. Hơn nữa lại là mẫu sư tử Trung Quốc được sản xuất hàng loạt, có thể bắt gặp ở bất cứ đâu trong các nhà dân hay công sở… Chính cái lối bắt chước vô ý thức của nhiều người Việt sẽ khiến cho người đời sau ngộ nhận về điêu khắc Việt Nam.

“Nô lệ” văn hóa là vong bản

Thực tế, việc đặt sư tử đá kiểu mẫu Trung Quốc tại chùa Một Cột và nhiều di tích khác đã bị giới nghiên cứu văn hóa phê bình từ lâu. Cụ thể ở đền Đô (Bắc Ninh), người ta đã lắng nghe sự góp ý của giới nghiên cứu văn hóa và đem đôi sư tử đá Trung Quốc ấy bỏ đi, trả lại không gian trong sạch vốn có cho ngôi đền.

Do đó, chỉ cần có một chút ít hiểu biết văn hóa tối thiểu thì sẽ thấy cần đưa ngay những thứ rác văn hóa ấy ra khỏi ngôi chùa Một Cột Tổ tiên người Việt trong khi tiếp nhận tinh hoa văn hóa bên ngoài nhưng đều ý thức giữ lại hồn cốt của người Việt. Vì thế từ trong điêu khắc, kiến trúc, thẩm mỹ đều có bàn tay sáng tạo với nhận thức rất rõ về văn hóa, dân tộc của mình.

Có thể nói, những yếu tố văn hóa lạ xuất hiện ồ ạt trong các ngôi chùa Việt trong những năm gần đây một lần nữa là cảnh báo đối với chúng ta. Đặc biệt, các loại đồ thờ cúng, tượng Phật Đài Loan, Trung Quốc sản xuất công nghiệp xuất hiện tràn lan trong các chùa và tư gia Phật tử.

Vì vậy, thiết nghĩ, các ban, ngành chuyên môn cần phải có những chiến lược văn hóa, cụ thể cho từng giai đoạn, nếu không khi các vị trụ trì, và các thí chủ đi nước ngoài về sẽ mang theo đủ các loại “phong cách Tây – Tàu” hỗn độn du nhập vào. Tại sao không thể sản xuất những mẫu tượng và đồ thờ cúng mang phong cách truyền thống Việt Nam?

Sự lệ thuộc trong đời sống văn minh đã là một điều đáng xấu hổ. Sự lệ thuộc trong văn hóa còn di hại nhiều hơn, vì đó là sự lệ thuộc lộ ra sự kém cỏi nhất của một dân tộc. Dân tộc ấy sẽ chẳng còn gì nếu không có văn hóa của riêng mình. Nô lệ văn hóa là vong bản, mà vong bản thì sẽ dẫn đến mất nước.

Sự dễ dãi, chiều lòng theo những xu hướng phô trương, khoe mẽ, được núp dưới những mỹ từ “công đức” luôn đánh lừa mọi người, lệ thuộc đến mức đánh mất cả chính mình, đánh mất văn hóa của dân tộc mình. Đất nước không có chiến tranh, không có áp đặt văn hóa, nhưng từ những việc làm vô ý thức, sẽ dẫn tới thành…nô lệ văn hóa.

Link: http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/62375/-no-le–van-hoa.html

+ + + + +

Bài viết của cùng tác giả:

Sư tử đá Trung Quốc chễm chệ trong chùa Việt Nam?

Thực tế đã xuất hiện những “mẫu” sư tử do một số cơ sở điêu khắc đá sao chép từ mẫu sư tử đá mà người ta bắt gặp đâu đó trong phim ảnh Trung Quốc, được một số người tiến cúng vào các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, dẫn đến những so sánh không tránh khỏi sự khập khiễng.

Mối họa “sư tử lạ”

Thời gian vừa qua dư luận tỏ ra quan tâm đến việc ở một số nơi người ta xếp đặt sư tử đá của Trung Quốc trong các công trình tôn giáo, văn hoá. Một số tác giả, nhà nghiên cứu đã lên án hiện tượng này và cho rằng đây là một “mối họa sư tử”. Cũng có người đặt ra câu hỏi như: Sư tử đá đặt trước cửa chùa có hợp văn hoá Việt Nam hay không? Có phải sư tử đá là một biểu tượng thẩm mỹ chỉ phổ biến trong các công trình kiến trúc Trung Quốc? Không hiểu họ làm mới di tích hay phá hoại văn hoá?…

Những câu hỏi như trên đã thúc giục chúng tôi tìm hiểu về ý nghĩa văn hoá, tôn giáo của biểu tượng sư tử. Trong khuôn khổ bài viết, chỉ xin tìm hiểu mô-típ sư tử ở lĩnh vực kiến trúc, điêu khắc Phật giáo để xem thực chất nó có “xa lạ” với văn hoá Phật giáo hay không.

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư: “Hình tượng sư tử vờn khối cầu hay khối ngọc là một mô-típ thường gặp trong nghệ thuật điêu khắc cổ, xuất hiện khá muộn vào cuối thế kỉ 14 trong một bức chạm trên nhang án chùa Xuân Lãng, tỉnh Phú Thọ (niên đại 1392). Hình ảnh sư tử giai đoạn này mang nhiều nét dân gian, có phần gần giống hổ. Vào thời sau, ở 2 di tích tháp Bình Sơn thuộc huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc và đình Lỗ Hạnh tỉnh Bắc Ninh thế kỷ 16, hình ảnh sư tử được đồng nhất với lân, các chi tiết được chạm tinh tế hơn…”.

Điều chúng tôi quan tâm ở đây là biểu tượng sư tử trong văn hoá Phật giáo, chứ không phải “mẫu” của những con sư tử cụ thể, mới được trang trí trong một số đình chùa, đền miếu hiện nay.

Qua một số dịp đi khảo sát thực tế và được tiếp cận với một số tư liệu Phật giáo, chúng tôi nhận thấy sư tử là một biểu tượng văn hoá, thẩm mỹ, điêu khắc phổ biến, quen thuộc của Phật giáo. Hình tượng sư tử được nói đến trong rất nhiều kinh điển Đại thừa Phật giáo như Kinh Pháp Hoa, Kinh Duy Ma Cật, Kinh Thắng Man (Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại PhươngTiện Kinh)…

Đức Phật được ví như Sư tử chúa và tiếng rống của Sư tử (sư tử hống) được lấy làm ví dụ cho tiếng thuyết pháp của Đức Phật, có uy lực nhiếp phục muôn loài.

Sư tử không chỉ được ví cho sự xuất thân vương giả của Đức Phật mà sau này còn trở thành biểu tượng của triều đại vua A-Dục, một vị vua Phật đã cử những phái đoàn đi khắp nơi trên thế giới để truyền bá tư tưởng đạo Phật. Ông đã cho chạm trổ rất nhiều những cột trụ sư tử ở khắp đất nước với những sắc dụ ảnh hưởng sâu sắc lời dạy của Đức Phật. Về sau, biểu tượng cột đá sư tử đã được Chính phủ Ấn Độ sử dụng làm Quốc huy.

Theo thời gian, biểu tượng sư tử đã trở thành một mô-típ phổ biến trong các tác phẩm nghệ thuật Phật giáo cả Nam lẫn Bắc, và được mỗi nền văn hoá, tiếp biến và sử dụng ở những mức độ đậm nhạt khác nhau.

“Văn hóa sư tử” trong các chùa Việt

Ở nước ta, những con vật như: Cá sấu, lân, nghê, sư tử dần thâm nhập vào nhau và trở thành một mô-típ khá đặc trưng ở khắp các ngôi chùa miền Bắc. Theo nhà nghiên cứu Đào Duy Anh: “Các nhà chép sử ở thời Lý – Trần xưa kia gọi giống cá sấu Chiêm Thành đem tiến cống là sư tử, tức sấu (hình con sấu trên nắp lư hương)…” (1).

Cụ thể, trong chùa thường có hai vị Thiện – Ác Hộ pháp cao lớn, mặc giáp trụ, cầm bảo khí, ngồi trên lưng sấu, một loại sư tử trong huyền thoại, trông rất uy dũng, dự tợn. Ngài Văn Thù Bồ tát (tượng trưng cho trí tuệ Phật giáo) thường được tạc ngồi trên lưng sư tử xanh và Ngài Phổ Hiền Bồ tát (tượng trưng cho hạnh nguyện Phật giáo) ngồi trên lưng voi trắng. Ngoài ra sư tử còn được đúc trên rất nhiều lư hương, chạm trổ trên các bệ thờ, chân tòa sen Đức Phật ngồi, lan can…

Đến đây, chúng ta có thể xác định “văn hoá sư tử” trái lại không hề xa lạ mà còn phổ biến trong các tác phẩm nghệ thuật Phật giáo trải từ thời Lý – Trần – Lê – Mạc và Lê trung hưng, dù về sau thời Nho giáo thịnh hành, biểu tượng rồng, rùa… có vẻ lấn lướt hơn.

Hiện chùa Phật Tích – Bắc Ninh còn giữ được 5 cặp tượng thú điêu khắc đá thời Lý khá lớn như: Sư tử, voi, trâu, ngựa, tê giác. Cặp sư tử cao khoảng 1,2m, nằm sát bụng trên bệ hoa sen, có chức năng canh đường vào tháp, kiểm soát tư cách người vào chùa… Chùa Thông (Du Anh), Thanh Hóa cách thành nhà Hồ 3,5 km về phía Nam, thế kỷ 13, cũng còn lưu giữ một tượng sư tử bằng đá khá lớn, gần giống với tượng sư tử đá chùa Phật Tích, phong cách điêu khắc vào giai đoạn cuối thời Lý đầu thời Trần (2).

Sư tử không chỉ được thể hiện trong nghệ thuật cổ của người Việt mà còn trở thành một linh vật phổ biến trong điêu khắc đá cổ Chăm Pa (Chiêm Thành).

“Hình tượng sư tử trong điêu khác đá Champa là biểu tượng của chính giáo chống lại tà giáo và bảo vệ người tu hành chính đạo. Về ý nghĩa xã hội, sư tử hay còn gọi là Simha được coi là biểu tượng cho dòng dõi quý tộc, quản vương và tượng trưng cho quyền uy, sức mạnh vương quyền của các vua Chăm Pa.

Vì vậy, ngai vàng của vua còn có tên là Simhasana (ngai vàng sư tử), ngai ngồi của thần Visnu, hay của Phật cũng gọi là Simhasana” (3). Hầu hết sư tử được trang trí đều là sư tử đực, ở tư thế đứng 2 chân, gần giống với sư tử được chạm trên các cột đá của vua A Dục. Biểu tượng sư tử phổ biến trong điêu khắc đá Chăm Pa, tập trung nhiều ở Trà Kiệu, Quảng Nam.

Đang có sự ngộ nhận văn hóa?

Như vậy có thể thấy, biểu tượng sư tử đứng (ngồi) canh tháp, canh cổng vào chùa trở nên phổ biến trong các công trình kiến trúc tôn giáo của Việt, Chiêm, Khmer. Nhưng vì sao các biểu tượng đó được trang trí như một mô-típ gần như bắt buộc trong các chùa tháp của Chiêm Thành và Khmer, trong khi những gì tìm hiểu được ở Việt Nam chỉ có thể cho chúng ta lắp ghép một số dữ kiện xa hơn vào các triều Lý – Trần (4)?

Chúng tôi cho rằng nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc thời Lý – Trần có sự ảnh hưởng và giao thoa với nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Chiêm Thành, đặc biệt nền văn hoá của 2 dân tộc đều chịu ảnh hưởng mạnh bởi triết lý, tư tưởng đạo Phật và đạo Bà-la-môn. Cho đến khi Nho giáo thịnh hành vào thời Lê, Nguyễn thì những yếu tố văn hoá Phật giáo bị phai nhạt dần và có thể mất đi những lề lối kiến trúc, điêu khắc quen thuộc sau khi trải qua các giai đoạn trùng tu khác nhau.

Có thể nói, biểu tượng sư tử đá được đặt trước các cổng, bậc tam cấp chùa, tháp (có chức năng canh giữ…) hay được điêu khắc ở nhiều vị trí khác nhau, ở những nội dung thẩm mỹ, tôn giáo khác nhau trong một quần thể kiến trúc là một nét văn hoá đặc thù cần được tiếp tục nghiên cứu sâu rộng hơn. Cũng cần tìm hiểu xem biểu tượng sư tử từ trong kiến trúc tôn giáo đã ảnh hưởng đến kiến trúc lăng mộ về sau này như thế nào.

Điều đáng nói, sự “ngộ nhận văn hoá” không đến từ ý nghĩa của biểu tượng mà đến từ hình thức cụ thể của biểu tượng. Thực tế đã xuất hiện những “mẫu” sư tử do một số cơ sở điêu khắc đá “sao chép” từ mẫu sư tử đá mà người ta bắt gặp đâu đó trong phim ảnh Trung Quốc, được một số người tiến cúng vào các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, dẫn đến những so sánh không tránh khỏi sự khập khiễng.

Biểu tượng văn hoá này không chỉ phổ biến ở Trung Quốc mà tiếc thay, còn phổ biến ở các dân tộc như Việt, Chiêm, Khmer.

Lịch sử cho thấy, dù có giao thoa văn hoá, hay vay mượn thì người Việt vẫn luôn chế tác ra những biểu tượng mang hồn cốt, tình cảm của dân tộc mình. Chúng ta cần dũng cảm loại bỏ những con “sư tử lạ” với phong cách thẩm mỹ của người Việt ra khỏi các công trình kiến trúc tôn giáo. Một đôi sử tử đá mang phong cách nghệ thuật của người Việt đứng uy nghiêm canh giữ trước cổng chùa, tháp, tại sao lại không thể?

Điều chúng ta nặng lòng trăn trở chính là cuộc sống đang thiếu dần đi những người có tâm huyết nêu bật được hồn cốt nghệ thuật của tổ tiên mình. Phải chăng nghệ thuật sao chép đang lên ngôi, hay thực trạng vay mượn vô ý kể trên cho thấy ngay cả văn hoá cũng đang phải quay cuồng sống gấp?

Chú thích:

1. Lịch sử cổ đại Việt Nam, Ðào Duy Anh, Nxb Văn Hóa – Thông Tin, 2005, tr. 31-32.

2. “Tượng sư tử”, website của Bộ Văn hoá Thể thao và du lịch (Nguồn: http://www.cinet.gov.vn/vanhoa/mythuat/hoihoadieukhac/tuongco/chuong2/2.8/2.8.1.htm).

3.Theo website Bảo tàng lịch sử Việt Nam, (Nguồn: http://www.nmvnh.org.vn/portal/vi/Trung-bay/AAbt/?AAbout_catid=184&AboutId=657).

4. Có thể tìm hiểu thêm: Lan can bậc trang trí hình con sấu, mang phong cách nghệ thuật thời Lý chùa Phúc Lâm (Hà Nội). Đôi sấu thời Trần ở tam quan chùa Phổ Minh (Nam Định). Chùa Sùng Phúc (Gia Lâm, Hà Nội) được khởi dựng vào thời Lý, hiện còn 2 sư tử đá đội bệ Tam Thế (mỗi sư tử cao 1m, ngang 1,4m), 1 con sấu đá (dài 2m) ở thành bậc lan can.

Tượng 2 con sư tử đá ở chùa Bà Tấm (Hà Nội). Tượng sư tử đội tòa sen chùa Hương Lãng (Hưng Yên), chùa Ngô Xá (Nam Định), chùa Kim Hoàng và chùa Thầy (Hà Tây). Sấu đá chùa Quỳnh Lâm (Quảng Ninh)…

Link: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-07-22-su-tu-da-trung-quoc-chem-che-trong-chua-viet-nam-

Đọc lại: Từ đạo Phật nghĩ về cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa – Thái Nam Thắng

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: