Vietnam: Two decades of development lessons – Hai thập kỷ của các bài học phát triển . Myanmar nên học Việt Nam?

nguyenthanhnam1210: Tối nay ngồi đọc báo thấy xuất hiện mấy bài trên báo Việt có nội dung tương tự trên báo nước ngoài. Ngoài bài này còn bài trước đó là Vietnam Plans to Legalize Sports Gambling – Việt Nam có kế hoạch hợp pháp hóa chuyện cá độ trong thể thao . Thấy nó có tác dụng trong việc học tiếng Anh nên post lại.Khuyên bạn nên đọc phiên bản gốc. Hi vọng lần sau báo chí đăng lại bài viết nên trích link cụ thể để tiện theo dõi.

Nếu bài nào nguyenthanhnam1210 post lên mà không trích link mong các bạn báo lại. nguyenthanhnam1210 luôn tôn trọng link gốc

By Adam McCarty
Volume 31, No. 617
March 5 – 11, 2012

THERE are striking parallels between the economy of Vietnam in the 1990s and that of Myanmar today. Of course there are also many differences, but the similarities suggest that there are lessons for Myanmar as it opens its economy to the world, particularly given that Vietnam has averaged 7-8 percent annual GDP growth for the past two decades.

A key question is what economic reforms should Myanmar focus on in 2012 and during the immediate post-sanctions period?

There are similarities in the “starting point” of both countries. In 1992, Vietnam implemented its first systematic measurement of living standards and reported a poverty rate of nearly one-in-two Vietnamese. A similar survey in Myanmar in 2005 reported one-in-three in poverty. Vietnam 20 years ago was less developed and poorer than Myanmar today, yet both “start” as poor countries with great potential – notably a young, large and literate population – with that potential not being fully realised for both external (sanctions) and internal reasons (protectionist policies, a weak legal system and property rights, and so on).

Even policy changes show similarities. In 1989 Vietnam unified its official and black market exchange rates, just as Myanmar is in the process of doing. The American-led trade and investment embargo against Vietnam dragged on until 1993 (one year after a new constitution in Vietnam), but hopefully, given the present pace of positive changes, we might see the embargo against Myanmar lifted this year.

In Vietnam, a series of important policy reforms were taken well before the embargo was lifted. These included the return of land to individual farm households on permanent use-right basis (1988); stabilisation of the macro-economy, notably inflation (1989); removing barriers that stopped households from conducting businesses (1990 Law on Private Enterprises); and trade and foreign investment liberalisation (the 1987 Law on FDI had no real impact until the exchange rate unification).

The above four reform areas are, I argue, the foundation for success in the post-embargo period in Vietnam. All were built upon in later years, such as the 1993 amended Land Law that made agricultural land-use rights transferable and useable as collateral, and the 2000 Enterprise Law.

I choose the above four reforms because opening up to world trade and investment (and official development assistance, or ODA) is the only path for a country to get rich. Macroeconomic stability is a prerequisite for following that path: instability and high inflation, for example, lead to low foreign direct investment (FDI). Yet if you want equitable development – where more than an elite benefit – that rapid growth must be built on supporting households. Most importantly, that means giving households private ownership of their assets, a legal framework that protects that ownership, and a minimum of regulations and taxes on their ability to do business. In other words, encourage households to invest, make profits and keep them.

Myanmar has much work to match the policy reforms of Vietnam over the past two decades. Vietnam did not wait for the embargo to be lifted before making bold policy reforms and neither should Myanmar. This raises questions about the appropriate sequencing of reforms: it is easy to make lists of all the changes needed, but in what order should they – and can they – be tackled?

“Reform”, moreover, is not just a matter of issuing (and removing) laws and regulations but also of building the institutions that make such paper meaningful: a Central Bank; Auditor General; Government Inspectorate; commercial and arbitration courts; judiciary; professional associations; research institutes and universities; and many more.

Another “lesson” from Vietnam is that “reform” is a continuous process of issuing, reviewing, amending and removing policies – and one that requires much effort and government capacity. In the 1980s, the Vietnamese government structure was top-heavy and cumbersome. Many small matters could only be decided at the highest levels. That was fine when not much was changing – for example, when there were few foreign investors – but during the 1990s it was clearly a bottleneck to progress. Since then, a process of decentralistion and administrative reform has tried to keep pace with the demands of a modern and competitive market economy. The government of Myanmar will face the same challenge; the faster it can decentralise authority across the board, the faster it can benefit its own people.

Vietnam has made mistakes as well and there are negative lessons to learn. Establishing state-owned product-specific monopoly corporations was a very different approach to Japan and South Korea, where private corporations were encouraged to compete against each other for export markets. Vietnam has also not handed over macro-economic policy management to technical experts, such as a truly independent central bank, so great confusion persists about appropriate policy instruments and targets. Further, Vietnam has been slow to liberalise and make competitive its financial sector. Yet these negatives are outweighed by the positives that enabled Vietnam to achieve middle-income country status in 2011 with a reported poverty rate of 12pc in 2009.

In subsequent articles in this series I will choose particular aspects of the Vietnamese reform experience, explain them, and relate them to contemporary Myanmar. I have chosen topics of importance, but also of relevance to donor organisations, who will be planning many new “interventions” – read projects – with the government this year. These topics include microfinance, integrated rural development, promoting private sector development, and trade liberalisation. Myanmar has a broad and comprehensive policy reform agenda ahead of it, yet it is neither alone nor unique. The experience of other countries, like Vietnam, can give guidance – both good and bad.

(Dr Adam McCarty is an Australian economist who has been living and working in Vietnam since 1991 as a university lecturer and consultant, conducting policy research and project evaluations for donor agencies. In 2001, he established Mekong Economics Ltd, where he is chief economist, and his work a across the Mekong region has covered microfinance, state enterprise reform, rural development impact evaluations, trade policy, aid effectiveness, and the education sector.)


+ + + + +

Myanmar đang là bản sao của Việt Nam đầu thập niên 1990

Có một số điểm tương đồng ấn tượng giữa kinh tế Việt Nam thập niên 1990 và kinh tế Myanmar ngày nay. Myanmar có nhiều thứ để học từ Việt Nam.

Tất nhiên vẫn còn nhiều điểm khác biệt thế nhưng việc có một số yếu tố tương đồng cho thấy Myanmar có thể học được ở Việt Nam một số điều khi muốn mở cửa nền kinh tế, đặc biệt xét đến việc kinh tế Việt Nam tăng trưởng được từ 7 đến 8% trong suốt 2 thập kỷ qua.

Người ta đặt câu hỏi Myanmar nên tiến hành chương trình cải tổ kinh tế như thế nào trong năm 2012 và thời kỳ hậu cấm vận?

Xét về xuất phát điểm, Việt Nam và Myanmar có rất nhiều điểm tương đồng. Năm 1992, chính phủ Việt Nam áp dụng chính sách nâng cao đời sống nhân dân, khi đó tỷ lệ người nghèo rất cao. Khảo sát tại Myanmar năm 2005 cũng cho thấy đến 30% dân số Myanmar sống trong cảnh nghèo khó. 20 năm trước, kinh tế Việt Nam kém phát triển và nghèo hơn Myanmar ngày nay.

Hai nước giống nhau ở điểm cùng có xuất phát điểm đầy tiềm năng, dân số trẻ, được đào tạo và tiềm năng chưa được khai phá bởi cả lý do đến từ bên trong và bên ngoài. Lý do bên ngoài có thể kể đến biện pháp trừng phạt, còn lý do bên trong, có thể đó là chính sách bảo hộ, hệ thống pháp lý yếu …

Ngay cả thay đổi về chính sách cũng có một số điểm tương đồng. Năm 1989, Việt Nam thống nhất tỷ giá trên thị trường chính thức và thị trường chợ đen, Myanmar cũng đang trong quá trình thực hiện chính sách này. Việt Nam được giỡ bỏ cấm vận vào năm 1993 thế nhưng người ta đang tràn trề hy vọng rằng lệnh cấm vận áp dụng với Myanmar có thể được giỡ bỏ trong năm 2012.

Tại Việt Nam, trong các thay đổi chính sách được đưa ra, nổi bật nhất phải nói đến chính sách cấp ruộng cho các hộ gia đình; bình ổn kinh tế vĩ mô, đặc biệt vấn đề lạm phát; tự do hóa thương mại và đầu tư nước ngoài.

Chính sách cải tổ trong 4 lĩnh vực trên đặt nền móng cho thành công của thời kỳ hậu cấm vấn tại Việt Nam.

4 chính sách trên được nêu ra ở đây bởi con đường duy nhất giúp một nước trở nên giàu có hơn chính là mở cửa đón thương mại và đầu tư. Ổn định kinh tế vĩ mô đóng vai trò tiên quyết với một nước, tình trạng mất ổn định và lạm phát cao khiến đầu tư trực tiếp nước ngoài đi xuống.

Nếu muốn có được tăng trưởng ổn định, cần phải có chính sách tăng trưởng phù hợp, hỗ trợ cho các hộ gia đình. Quan trọng hơn, các hộ gia đình cần phải có quyền sở hữu đối với tài sản của họ, vì vậy cần đến khung pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu cũng như giảm bớt quy định cũng như thuế để giúp người dân làm kinh doanh. Nói cách khác, cần phải khuyến khích các hộ gia đình đầu tư, kiếm lợi nhuận và tự bảo quản được tài sản.

Myanmar có nhiều điều để học từ Việt Nam. Việt Nam không đợi đến khi lệnh cấm vận được giỡ bỏ mới đưa ra chính sách cải tổ mạnh tay và Myanmar cũng vậy.

Dù vậy Việt Nam cũng mắc phải một số sai lầm và Myanmar cần tránh “vết xe đổ”. Việc lập ra các tập đoàn độc quyền nhà nước rất khác với chính sách của chính phủ Nhật và Hàn Quốc nơi các tập đoàn tư nhân được khuyến khích cạnh tranh với nhau để giành thị trường xuất khẩu. Ngoài ra Việt Nam còn cần phải có một Ngân hàng Trung ương thật sự độc lập. Việt Nam còn chậm cải tổ lĩnh vực tài chính và chưa khiến lĩnh vực tài chính có khả năng cạnh tranh cao hơn.

Nhìn chung tại Việt Nam, có thể thấy yếu tố tích cực vẫn nhiều hơn yếu tố tiêu cực, Việt Nam đã trở thành nước thu nhập trung bình từ năm 2011, tỷ lệ đói nghèo năm 2009 khoảng 2%.

Tác giả bài viết là ông Adam McCarty, chuyên gia kinh tế người Úc, người đã sống và làm việc tại Việt Nam suốt từ năm 1991, ông làm giáo sư đại học, tư vấn chính sách, nghiên cứu viên. Năm 2011, ông lập ra tổ chức Mekong Economics nơi ông làm chuyên gia kinh tế trưởng. Ông nghiên cứu sâu sắc về nhiều lĩnh vực, từ tài chính vi mô, cải tổ trong lĩnh vực nhà nước, hoạt động phát triển nông thôn, chính sách thương mại cho đến giáo dục của các nước trong khu vực sông Mêkông. Bài viết được đăng trên báo Myanmar Times.



Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập: Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )


Connecting to %s

%d bloggers like this: