Nhìn lại một chặng đường phát triển chữ Quốc ngữ – Nguyễn Đức Dân

Những biến đổi của chữ Quốc ngữ gắn liền với những diễn biến phát triển văn hóa xã hội qua những giai đoạn lịch sử của đất nước.

Chữ Quốc ngữ trong vai trò truyền bá văn hóa

Chữ Quốc ngữ là một hệ chữ La tinh viết theo cách ghi âm. Rất đơn giản và dễ  học. Truyền bá được chữ Quốc ngữ là người Việt có cơ hội bắc cầu để tiếp xúc với những nền văn minh Tây phương rất quan trọng dùng chữ La tinh.

Nhưng để chữ Quốc ngữ sau khi ra đời có thể thực sự hòa vào dòng chảy tiếng Việt thì công lao đầu tiên là của báo chí. Những nhà văn, nhà báo lớn đầu tiên của Việt Nam là những người ý thức rất rõ về vai trò của chữ Quốc ngữ và tiếng Việt đối với sự hưng thịnh của nền văn hóa dân tộc và tồn vong của đất nước. Nguyễn Văn Vĩnh từng nói “Nước Nam ta mai sau này, hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ”. Phạm Quỳnh cũng có một câu bất hủ: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; Tiếng ta còn, nước ta còn”.

Nguyễn Văn Vĩnh là người có biệt tài về dịch văn chương phương Tây sang tiếng Việt. Ông chịu khó tìm trong kho thành ngữ, tục ngữ của ta những câu diễn đạt ý tưởng mới của Âu Tây khiến văn dịch của ông tưởng như những nguyên tác tiếng Việt. Ngay năm đầu tiên của Đông Dương tạp chí,  năm 1913, Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch đăng bài thơ ngụ ngôn của  La Fontaine “Con Kiến và con Ve sầu” và nhanh chóng được đông đảo bạn đọc yêu thích.

Tuy nhiên, để phổ cập chữ Quốc ngữ thì nhất thiết phải chuyển tải được vào giáo dục, và ở đây chúng ta không thể không nhắc đến công lao GS. Hoàng Xuân Hãn. Ông là người đặt ra danh từ khoa học, nhờ đó tiếng Việt có thể được dùng để dạy ở bậc trung học và đặc biệt là ở đại học. Trước đó Gia Định báo gặp nhiều khó khăn khi diễn đạt các thuật ngữ khoa học: “Mạch nước nóng, nước ngũ kim”, “nước thán khí” chứ chưa gọi là  nước khoáng,  nước có gas.

Giản dị hóa, đời sống hóa chữ Quốc ngữ – dấu ấn báo chí Nam bộ

Trong lịch sử hình thành ngành báo ở Việt Nam, báo chí xuất hiện ở Nam bộ sớm hơn ở Bắc bộ (những tờ báo đầu tiên của Việt Nam là Gia Định báo (GĐB, 1865) ở Nam bộ, tiếp theo là Đông Dương tạp chí (ĐDTC, 1913), và Nam Phong tạp chí  (1917) ở Bắc bộ, và có vai trò quan trọng trong việc giản dị hóa, đời sống hóa chữ Quốc ngữ, dù vai trò này từng có lúc chưa được các học giả nhìn nhận đúng mức.

Trong khi ở Bắc bộ Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương ngôn ngữ báo chí là thứ ngôn ngữ gọt giũa, văn chương thì Trương Vĩnh Ký, ngay từ 1869 đã khuyến khích và huấn luyện “các thầy thông ngôn, ký lục, giáo tập” làm thông tín viên báo chí,  cung cấp bài vở cho phần  “Tạp vụ” của tờ GĐB dùng một thứ ngôn ngữ phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc, sao cho “tiếng Việt trơn tru như lời nói”.

Tuy nhiên, phương tiện giao thông chuyên chở báo lúc đó chỉ là những “xe tờ” ngựa kéo. Mãi năm 1922 mới có xe hơi đi từ Sài Gòn đến lục tỉnh. Bởi vậy, lúc mới ra đời, ảnh hưởng của GĐB nói riêng và báo chí Nam bộ nói chung chưa vượt ra khỏi vùng đất Nam bộ. Điều này cũng giải thích vì sao vai trò của ĐDTC và NPTC  được nhấn mạnh hơn.

Về từ ngữ, đáng chú ý  nhất là GĐB dùng rất ít từ Hán –Việt. Có vậy giới bình dân Nam bộ còn chưa thông thạo chữ Quốc ngữ mới dễ đọc, dễ hiểu.

Về ngữ pháp và phong cách, những câu viết trên báo giống như những lời kể chuyện thật tự nhiên. Không thấy những câu bị động. Văn viết (bút ngữ) trên báo rất gần với lời nói (khẩu ngữ). Sự việc xảy ra thế nào thì cứ tuần tự hiện ra trong ngôn ngữ như thế, khiến trong câu có nhiều động từ, ít danh từ. So với các bản tiếng Pháp tương tự thì ít giới từ hơn hẳn.

Bên cạnh đó, người Nam bộ rất sáng tạo khi nhập từ nước ngoài vào tiếng Việt. Trong khi người Bắc bộ vay mượn chủ yếu theo cách phiên âm thì người Nam bộ thời xưa trong nhiều trường hợp đã nhận thức bản chất của sự kiện để sáng tạo ra những từ ngữ mới. Khi chiếc xe đạp đưa vào Việt Nam, tất cả các bộ phận đều chưa có từ để gọi, ấy thế là người miền Bắc phải mượn các từ tiếng Pháp frein,  enveloppe, chambre à air, garde-boue,… rồi phiên âm ra  tiếng Việt: phanh, lốp, săm, gác-đờ-bu (mãi sau mới chuyển thành cái chắn bùn)… Nhưng người Nam bộ không thế. Họ dùng những từ có sẵn đặt tên cho các bộ phận: thắng, vỏ, ruột, vè…

Biến đổi ngôn ngữ là do tự thân văn hóa, thẩm mỹ xã hội

Tiếng nói một dân tộc luôn luôn thay đổi ở cả 3 mặt ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp, nhanh chậm, nhiều ít khác nhau tùy lúc tùy nơi. Thay đổi về ngữ âm rất chậm, hầu như không thấy. Thay đổi ngữ pháp diễn ra nhanh hơn nhưng vẫn rất chậm và ít. Biến đổi từ vựng thì nhanh hơn và thường xuyên hơn. Tuy nhiên, mọi sự thay đổi luôn xuất phát từ những nhu cầu nội tại của con người và xã hội.

Từ nhu cầu thực tiễn trong sử dụng tiếng Việt người ta thường tự động thêm các ký tự  F, J, W, Z  vào bộ chữ cái để viết các từ ngoại lai và không gặp trở ngại gì, và cũng chẳng cần tới những văn bản “pháp quy” đưa 4 ký tự trên vào bảng chữ cái chữ Quốc ngữ.

Chữ viết là quy ước nên chuẩn mực chính tả cũng là quy ước. Chính tả do con người đặt ra. Như mọi hệ thống chữ viết khác, không tránh khỏi một số bất hợp lý trong chữ Quốc ngữ. Cho nên, đôi lúc đó đây lại có những đề nghị “cải tiến” chữ Quốc ngữ và chính tả. Nhưng một khi đưa ra những quy tắc pháp quy không hợp lý thì người ta sẽ “vượt rào”.

Quy định chính tả cho âm vị có hai cách viết i/y rơi vào trường hợp này. Ngày 30.11.1980  Bộ Giáo dục ra quy định: “…trường hợp các âm tiết có nguyên âm i  ở cuối thì viết thống nhất bằng i , trừ uy…”  Quy định trên không chú ý tới một quy tắc bất thành văn về tính thẩm mỹ  trong chữ Quốc ngữ: hình chữ phải đẹp,  trong đó có sự  cân đối về độ cao giữa các con chữ khi viết. Cân đối nghĩa là ghép những phụ âm cùng độ cao với /i/ thì có khuynh hướng dùng  i:  Ví dụ:  viết  vi phạm, vì vậy, vị trí,  si mê,  mị dân … mà không viết vy phạm, vỳ vậy, vỵ trí, sy mê; mỵ dân. Còn khi ghép cùng một phụ âm có phần nhô cao lên thì ta viết y  nhằm tạo ra sự hài hòa trên dưới.  Viết lý thì phần trên và phần dưới chữ này cân đối với nhau, còn viết  lí  thì phần dưới chữ này hơi bị hụt. Trong GĐB và  Nông Cổ Mín Đàm (NCMĐ) đều viết như vậy: chánh lý, có lý lắm, ký tên, thơ ký, trong kỳ 15 ngày, xem kỹ…

Kích thước con chữ cũng là một lý do thẩm mỹ, theo xu hướng hình thức phản ánh nội dung: Chữ i có kích thước ngắn hơn chữ y,  tạo ra ấn tượng là một đối tượng nhỏ. Vậy nên có khuynh hướng dùng i ngắn cho những đối tượng tạo ra  ý niệm  nhỏ: li ti, tỉ mỉ, vi tính, chi li, chi tiết, chơi bi, sân si, lí nhí … Hình như không ai viết chơi by, tỷ mỷ; chy ly, chy tiết, vy tính…

Phức tạp hóa,  “quan cách hóa” tiếng Việt và những hệ lụy

Trong truyện ngắn Đôi mắt  của Nam Cao có tình tiết một anh dân quân đánh vần chưa thạo chữ Quốc ngữ nhưng đã nói thuộc lòng một bài 3 giai đoạn kháng chiến phòng ngự, cầm cự, tổng phản công … ‘dài đến năm trang giấy’ với những cụm từ còn khá xa lạ với ngôn ngữ thời ấy như “đề nghị, yêu cầu, phê bình, cảnh cáo, thực dân, phát xít, phản động, dân chủ với cả tân dân chủ” (trích  Đôi mắt, 1948). Câu chuyện của nhà văn có thể phần nào hư cấu, nhưng đã phản ánh một thực tế là từ cách đây gần 65 năm đã xuất hiện trên cửa miệng người dân bình thường những khái niệm cao xa theo đúng đường lối, theo chỉ thị, nghị quyết, dù có lẽ không phải ai cũng hiểu hết ý nghĩa.

Xu hướng ấy tiếp tục kéo dài sáu bảy thập kỷ tiếp theo, một khoảng thời gian đủ dài để tạo ra hai thế hệ với thói quen ngôn từ nói năng đúng giáo điều dù chưa chắc đã hiểu thấu đáo. Điều này dẫn tới hệ lụy là xã hội  hình thành  thói quen chấp nhận,  tư duy thụ động, không muốn lật lại nghĩa lý của từ ngữ, câu chữ, khái niệm và lập luận khi tiếp nhận văn bản. Vả lại, nếu ai đó có suy nghĩ độc lập, muốn phản biện, muốn bình luận sẽ tạo ra những lời nghịch nhĩ và trở thành “người có vấn đề”.

Hậu quả là người ta lo nói năng an toàn, cầm giấy phát biểu theo những giáo điều, dần dần hình thành thói quen kết luận mà không chú ý tới lý lẽ thuyết phục, khiến nhiều người nghèo đi về ngôn từ và tư duy. Thế nhưng người ta vẫn có nhu cầu thể hiện mình qua ngôn ngữ. Vậy là sinh ra lối nói những câu hùng hồn dài dòng rỗng nghĩa. Người nói cố tỏ ra sang trọng với nhiều từ Hán-Việt dù không hiểu thật thấu đáo. Một thói quen quan cách, sẵn sàng lặp lại những điều đã biết, đã từng nói.

Biến tướng của lối nói dư thừa là lối nói “chuẩn” nhưng không có trích dẫn. Trải qua nhiều cuộc học tập nghị quyết, rèn luyện lập trường quan điểm, nâng cao ý thức chính trị, trong một số người đã hình thành thói quen tư duy thụ động và “nghệ thuật” nói năng an toàn: quan trọng nhất là phát biểu theo đúng quan điểm, đường lối mà không cần trích dẫn trực tiếp xuất xứ, vốn là điều tối kỵ với những người làm khoa học.

Vũ Ngọc Phan, đã bình luận về Nông Cổ Mín Đàm và Đại Việt Tân Báo như sau: “là những báo chí không có tính cách văn học, chỉ đăng rặt những tin vặt, những thông cáo  của Chính phủ, những bài diễn văn của người đương thời…” (Nhà văn hiện đại, quyển nhất, NXB Vĩnh Thịnh, Hà Nội, 1951). Những tài liệu nghiên cứu văn học sử và báo chí sau đó đã  theo ý kiến này mà cho rằng Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí mới là hai tờ báo đầu tiên góp phần  xây dựng nền văn học hiện đại.
Huỳnh Văn Tòng cũng viết : “Trước Đông Dương tạp chí có những tờ báo khác như Gia Định báo, Lục Tỉnh Tân Văn… Nhưng những tờ báo này thực ra chỉ có tính chất thông tin, văn chương còn luộm thuộm và hết sức đơn sơ.” (HVT, 2000, 123).
Nhưng những nhận định như vậy là vô tình bỏ qua những đóng góp của báo chí Nam bộ trong việc hình thành một thứ phong cách ngôn ngữ văn xuôi giản dị gần với khẩu ngữ, với những tác giả như Lê Hoằng Mưu, Trương Duy Toản, Tân Dân Tử, Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh, v.v, nhất là của Trương Vĩnh Ký.

————

Đối tượng của Gia Định báo là người Nam bộ và là những người bình dân  thì ngôn ngữ cũng phải là phương ngữ Nam bộ. Có vậy độc giả Nam bộ mới tiếp nhận được. Viết trơn tru như lời nói theo phương ngữ Nam bộ  thực sự trở thành  phong cách ngôn ngữ của GĐB, kể cả ở văn dịch. Số báo ngày đầu tháng chạp năm Tân Tỵ cách nay 130 năm, tức 20.01.1882, có một chuyện hài hước Tên Arabe đói, như sau:  “Có một tên Arabe kia, lạc bậy ở giữa đồng cát đói khát đà hai ngày rồi, biết mình chẳng kíp thì chầy không khỏi chết. Lúc đi qua gần một cái giếng, chợt thấy trên cát một cái bị nhỏ bằng da, nó vội vã lượm lấy cái bị ấy, tưởng là bị chà là. Lòng mầng lật đật mở ra. Mắt vừa ngó thấy đồ trong ấy thì vùng la khan lên rằng : “Thảm thay! Tinh những là ngọc mà thôi!”
Ở đoạn văn này, chỉ cần thay vài từ ngữ của phương ngữ Nam bộ và sửa những lỗi chính tả về dấu hỏi, ngã, v.v, chúng ta sẽ có một đoạn văn theo ngôn ngữ phổ thông hiện nay:  “Có một người Arabe lạc ở giữa đồng cát, đói khát đã hai ngày rồi, biết mình chẳng chóng thì chầy không (tránh) khỏi chết. Lúc đi qua gần một cái giếng, chợt thấy trên cát một cái bị nhỏ bằng da,  người đó vội vã lượm  cái bị ấy lên, tưởng là bị chà là. Lòng mừng lật đật mở ra. Mắt vừa nhìn thấy đồ trong ấy thì vùng kêu lên rằng: “Thảm thay! Toàn là những ngọc mà thôi!”
Từ ví dụ này có thể hình dung văn dịch từ 130 năm trước của Gia Định báo hầu như không mấy khác biệt so với ngôn ngữ hiện nay.

Link: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=4965&CategoryID=41

+ + + + +

Một bài khác cũng trên Tiasang ngày 7/3/3012

Nguyễn Văn Vĩnh đến với chữ viết tiếng Việt –Nguyễn Mỹ Anh Kim

Cuộc đời lao động với con chữ và báo chí của Nguyễn Văn Vĩnh kéo dài đúng 30 năm (1906 – 1936), với những tháng ngày mê mải với quyết tâm: dân ta, nói thế nào phải viết như thế!
Giữa thế kỷ 19, nước Pháp với chủ nghĩa thực dân  thực hiện chủ trương mở rộng và tìm kiếm thuộc địa mới, họ đã vào đất nước ta từ phía Nam. Muôn vàn khó khăn của kẻ đi chinh phục một miền đất mới là lẽ đương nhiên và khó khăn lớn nhất đối với bất kỳ một kẻ ngoại xâm nào, đó sẽ là việc chinh phục ngôn ngữ và văn hóa của người dân bản xứ.

Lịch sử đã đúc kết, văn hóa mãi là nền tảng và cơ sở của lòng yêu nước đối với mỗi dân tộc và chẳng ai không biết nguyên lý giản dị này. Kết quả của một cuộc viễn chinh, cái cuối cùng phải đạt được để được gọi là thắng lợi, đó là việc thôn tính được nền văn hóa của đối phương, chứ không phải chỉ là đất đai và tài nguyên.

Từ những nguyên tắc thông thường này, trong suốt gần 50 năm cuối thế kỷ 19, chính quyền thực dân đã thực sự lúng túng và căng thẳng trong việc lựa chọn áp đặt thứ ngôn ngữ nào trong chính sách cai trị người Việt. Trong cuốn sách “Chữ, văn Quốc ngữ thời kỳ đầu Pháp thuộc” do nhà xuất bản Nam Sơn in tại Sài Gòn 1974, ở trang 59,  tác giả Nguyễn Văn Trung(1) có viết: “Trong con mắt của thực dân, chữ Quốc ngữ chỉ là thứ chữ bình dân, không phải thứ chữ của văn hóa, chữ Pháp, chữ Nho mới là chữ văn hóa …”.

Từ nhận thức này, ở trang 64 người viết đã bộc lộ một cách chủ quan: “Nói cách khác, theo Landes, chữ Quốc ngữ chỉ có thể tiện lợi cho nhu cầu hàng ngày và nó không thể trở thành một chữ viết của văn chương, văn hóa, thông thái …”. Song chính người Pháp cũng không muốn dùng chữ Hán để áp đặt lên việc cai trị người Việt Nam, đơn giản vì đó là một thứ chữ quá khó học, bản thân người Pháp còn thấy khó hơn. Đó là chưa nói đến việc dùng chữ Hán sẽ tiếp tục để người dân bản xứ bị ảnh hưởng, chi phối bởi nền văn hóa Trung Hoa, tạo thành sự cạnh tranh với tư tưởng cai trị của thực dân Pháp. Vậy, sẽ phải là tiếng Pháp để thực hiện chủ trương đô hộ?! Đương nhiên họ muốn phải là tiếng Pháp.

Emonie, một quan chức của Chính phủ thuộc địa đã từng trình bày tham luận trước bộ máy cầm quyền của thực dân Pháp năm 1898, khẳng định: chúng ta hãy trả lại cho họ (tức người dân Annam) tất cả, chúng ta chỉ cần đặt tiếng Pháp là Quốc ngữ thôi, có vậy mới hy vọng biến Annam thành một nước Pháp ở phương Đông và hoàn thành xứ mạng của kẻ chinh phục, nếu không, chỉ 50 năm nữa, sẽ chẳng có người bản xứ nào nghĩ đến chúng ta cả! (2)

Vậy nhưng họ đã không làm được điều này. Vào hoàn cảnh lịch sử lúc đó, mặc dù  người Việt buộc phải dùng chữ Hán trong giao dịch hành chính để quản lý xã hội, nhưng hơn 90% dân số không biết đọc, cùng với tâm lý ghét Tây, vì Tây là bọn xâm lược. Cuối cùng, họ chỉ còn một giải pháp, đó là: dùng tiếng Việt đã được Latin hóa từ thế kỷ 17. Song, thật đáng tiếc, vì tính từ khi hình thành tiếng Việt theo mẫu tự Latin ở giữa thế kỷ 17, thứ chữ mới này tuyệt nhiên không được phổ cập, chính xác là không được chấp nhận do hai nguyên nhân chính: một là, các nhà truyền giáo chỉ đưa vào sử dụng trong địa hạt của nhà thờ và những người theo Công giáo; hai là, xã hội Việt Nam lúc đó là xã hội của Phật giáo vốn mang trong mình một mặc cảm: chữ Việt có ký tự Latin là của Công giáo, mà Công giáo là của Tây, mà Tây là bọn xâm lược. Mà khi đã không được phổ cập, tự thân nó cũng sẽ không được mài dũa và hoàn thiện, nên càng khó phổ cập. Cứ vậy, thứ chữ Việt được các giáo sỹ phương Tây sáng tạo ra suốt 250 năm không “lớn” nổi.

Dấn thân

Năm 1904 xuất hiện phong trào Đông du ở miền Trung do Phan Bội Châu lãnh đạo. Ảnh hưởng của Đông du đã sinh ra những yếu nhân, và những yếu nhân này đã khởi xướng ra phong trào mới: Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, 1907, do Phan Châu Trinh chủ xướng. Đông Kinh nghĩa thục nhìn từ góc độ khách quan thực sự là một cuộc cách mạng về văn hóa, bởi lẽ đó chính là sự hô hào mang tính rộng khắp đối với dân chúng về mọi mặt trong sinh hoạt, học tập, tư duy, phong tục, lối sống và ứng xử trong xã hội. Nhờ có trào lưu xã hội này mà nó đã quy tụ được số lượng đông đảo các chí sỹ nổi danh đương thời ở nhiều lĩnh vực khác nhau và đồng lòng với mục tiêu chiến lược “khai dân trí”.

Nguyễn Văn Vĩnh lúc này mới 25 tuổi, sau 10 năm đào luyện trong môi trường Pháp văn, tiếp cận với hệ thống văn bản tiếng Pháp, sách báo và các ấn phẩm tiếng Pháp, chắc chắn đã tạo cho Nguyễn Văn Vĩnh những khái niệm, kiến thức cơ bản về những nguyên lý của ngữ pháp, cấu trúc của một đoạn văn, thành phần của một câu văn, không phải chỉ trong tiếng Pháp. Cuộc đời 10 năm làm công chức (từ lúc 15 tuổi đến 25 tuổi), Nguyễn Văn Vĩnh đã kịp học và sử dụng thành thạo cả tiếng Anh và tiếng Hán, một phần nhờ bộ óc thông minh thiên bẩm, một phần vì nhu cầu của công việc hằng ngày trong các công sở nơi Nguyễn Văn Vĩnh lao động, nhưng chắc chắn có một phần vì say mê với văn chương như một thiên hướng định mệnh.

Sống trong hoàn cảnh xã hội như đã nói ở trên, sẵn trong lòng nỗi niềm đam mê với con chữ (3), Nguyễn Văn Vĩnh đã thai nghén ngay trong ý thức của mình sự định hướng của một tương lai với văn học và văn hóa, mà văn học và văn hóa nhất thiết phải thông qua chữ viết. Trong bức thư Nguyễn Văn Vĩnh viết ngày 02.5.1906 gửi từ Marseille – Pháp về cho người bạn thân là Phạm Duy Tốn, chúng ta mới thấy rõ quyết tâm và lý tưởng giản dị của ông đối với nghề viết: “Ở đây tôi có rất nhiều dịp để viết báo, nhưng tôi không làm. Sở dĩ như thế là vì bây giờ cho đến khi đạt được mục đích, tôi muốn hoàn toàn là vô danh, không ai biết tôi là ai cả. Cái mục đích ấy, tôi đã nói với anh nhiều rồi …”

Trở lại Việt Nam, để thực hiện lý tưởng phát triển con chữ tiếng Việt của mình, Nguyễn Văn Vĩnh quyết định từ bỏ con đường công chức, từ bỏ sự an nhàn, lao vào con đường hoạt động văn hóa, một con đường mà ngày ấy ở mảnh đất Bắc kỳ chưa có người Việt Nam nào đặt chân.

Nói thế nào, phải viết như thế!

Để có điều kiện thực hiện lý tưởng, Nguyễn Văn Vĩnh đã tham gia ngay từ giai đoạn mở màn của phong trào Đông kinh Nghĩa thục với những hoạt động phù hợp và đúng với mong mỏi của mình: ông đã giảng dạy môn tiếng Pháp và tiếng Việt, kêu gọi sử dụng chữ Quốc ngữ vì sự tiện lợi và tính ưu việt của nó, nhận làm vai trò diễn thuyết (thực chất là giới thiệu bộ môn hùng biện) những đề tài hoàn toàn mới lạ trong xã hội như thay đổi phong cách ăn mặc, lên án các hủ tục làm nghèo đi cuộc sống, bài xích những thói hư tật xấu trong sinh hoạt hằng ngày… Ngày 4 tháng 8 năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh đã đứng ra thành lập Hội dịch sách, hy vọng các tác phẩm dịch sẽ đem đến cho công chúng sự hiểu biết mới mẻ và mở rộng tầm hiểu biết đối với thế giới bên ngoài.

Ngày đầu tiên, tại Hội quán Trí tri ở 47 phố Hàng Quạt, Nguyễn Văn Vĩnh đã thuyết trình nguyên văn như sau:

“Ở thế–dan này, xem trong các nước, phàm nước nào đã gọi là nước văn–minh, là cũng có văn–chương riêng cả, tiếng nói thế nào, chữ viết như thế. Mà cái văn–minh người ta cũng ở đó mà ra, vì chữ có là ảnh tiếng nói thì mới dùng để chuyền sự hay đi trong nước ai ai đều học được cả. Cách chuyền tư–tưởng đi có hai cách: một là lấy miệng mà nói, thì chỉ ai đứng nghe nói thì nghe được mà thôi, mà nói xong nhời nói có nhẽ quên đi được. Một cách nữa là nghĩ điều gì hay, làm ra sách thì tư–tưởng chuyền đi được xa, mỗi quyển sách in ra nhiều người đọc được, mà không đọc khi này, đọc khi khác, có nhãng lại có thể đọc lại được. Chữ viết mà giống tiếng nói, thì một người viết một quyển sách, in ra bao nhiêu quyển, đã hình như nhân cái miệng mình ra bấy nhiêu lần, vì mỗi người mua một quyển sách ấy, mà đọc thì cũng như là thay mình đứng mà nói. Sách chuyền được đi nhiều tư–tưởng mới càng ngày càng rộng ra được, bàn soạn mỗi ngày một rành mạch ra, vì hễ có ít người xem tất ít người bàn soạn nhời nói của mình. Người làm sách ít khi gặp người bẻ bác thì nghĩ cũng không được chín bằng người viết ra một câu vạn ức con mắt nhìn vào, bẻ bai thóc mách”.

Tâm sự trên đây của Nguyễn Văn Vĩnh từ hơn 100 năm trước, đủ thấy cái tâm và cái nhãn quan xã hội thôi thúc con người này đến mức nào trong cuộc vật lộn với tiếng Việt và tìm cách nâng cao nền dân trí xã hội. Chúng ta có thể xác minh những tư tưởng và ý thức này của Nguyễn Văn Vĩnh cụ thể hơn khi xem lại việc ông cho ra đời tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ở Bắc kỳ – Đăng cổ Tùng báo – số đầu tiên ra ngày 28/3/1907 ở Hà Nội với lời tâm sự: “…Nước Nam xưa nay vẫn có tiếng nói, mà tiếng Annam lại hay được một điều là cả nước nói có một thứ tiếng, chữ Mán, Mọi ở nơi rừng núi không kể. Nhưng vốn chỉ có tiếng nói, không có chữ viết, đến khi học chữ Tàu rồi mới lấy chữ Tàu ghép ra thành một lối riêng, gọi là chữ Nôm. Chữ Nôm tuy viết quấy quá cũng thành ra giạng chữ, nhưng không có mẹo mực gì, ai muốn viết thế nào thì viết, thường phải cao đoán mới đọc được thông…Bây giờ nhờ có người phương Tây đến, bày ra chữ Quốc ngữ, chắp vần theo như chữ các nước phương Tây; có mẹo mực, ba là ba, bốn là bốn, không thể sai được mà học dễ biết là bao nhiêu! Sáng ý thì chỉ vài ngày, ngu đần thì trong một tháng cũng phải thông…”.

Cuộc đời lao động với con chữ và báo chí của Nguyễn văn Vĩnh kéo dài đúng 30 năm (1906 – 1936), với những tháng ngày mê mải trong quyết tâm: dân ta, nói thế nào phải viết như thế!
Chữ ta không thua kém gì trong việc thể hiện và chuyển hóa những tinh hoa tinh thần trong các tác phẩm văn học kinh điển của thế giới nhân loại, cho nên Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch không biết cơ man nào các tác phẩm của văn hóa Pháp, Trung Quốc và Việt Nam. Chỉ cần nhìn vào 3 công trình dịch thuật tiêu biểu của Nguyễn Văn Vĩnh, chúng ta đủ hiểu và có cơ sở để đánh giá cũng như hình dung ra lý tưởng và tài năng của một con người đối với ngôn ngữ mẹ đẻ và sự hiểu biết các ngôn ngữ khác, đó là các tác phẩm: “Tam Quốc chí diễn nghĩa” – 1909, từ Hán văn ra Quốc ngữ; “Những kẻ khốn nạn” – 1926, từ Pháp văn ra Quốc ngữ và “Kim Vân Kiều truyện”, từ chữ Nôm ra Quốc ngữ năm 1913, ra Pháp văn từ cuối những năm 20 đến giữa những năm 30 của thế kỷ trước. Bằng chứng này đã chứng minh một cách hùng hồn giá trị thực của tiếng Việt, tuyệt nhiên không thể như nhận định của một số quan cai trị người Pháp và cả của giáo sư Nguyễn Văn Trung trong tác phẩm “Chữ, văn Quốc ngữ thời kỳ đầu Pháp thuộc”. Để có được những thành quả rực rỡ trong việc làm giàu có tiếng Việt, suốt quá trình dài, Nguyễn Văn Vĩnh đã đau đáu với nhận thức: “Nước Nam ta bị mất vì những trí thức nho học chỉ biết làm văn chương Tàu. Chúng ta cố gắng đừng để thành những trí thức mới chỉ biết làm văn chương Tây” (5).
***
Nhìn lại 30 năm lao động và hoạt động không ngừng nghỉ của Nguyễn Văn Vĩnh trong lĩnh vực văn hóa Việt Nam, bằng những bài báo đầu tiên viết chữ Quốc ngữ 1907 đến những tác phẩm kinh điển của thế giới in bằng chữ Quốc ngữ, làm dấy lên cả một cao trào viết và sử dụng chữ Quốc ngữ thập niên 20 và 30 của thế kỷ trước, sinh ra cả một nền văn học chữ Quốc ngữ. Chúng ta không thể không xác nhận những đóng góp lớn lao của Nguyễn Văn Vĩnh  đối với nền văn học chữ Quốc ngữ, đặc biệt trong bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20 đang vật lộn để hình thành một nền văn hóa của riêng mình, vừa thoát ra khỏi ảnh hưởng của chế độ phong kiến, vừa phải uốn mình tránh sự áp đặt của chế độ thực dân kiểu cũ.
—————————
* Theo lời tựa bản dịch Tam Quốc chí diễn nghĩa 1909.
1. Nguyễn Văn Trung, giảng viên đại học của chế độ Việt Nam Cộng hòa, sau 1975 di tản và định cư tại Canada.
2. Bài phát biểu của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi tại hội thảo “Nguyễn Văn Vĩnh và hành trình chữ Quốc ngữ“ do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh và NXB Tri Thức tổ chức tại Hà Nội ngày 17/2/2012.
3. Cách đặt vấn đề của cố giảng viên Học viện Báo chí tuyên truyền Trần Hòa Bình. Sách “Báo chí – Những điểm nhìn từ thực tiễn” – NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội, năm 2000.
4. Các giáo sỹ phương Tây gồm nhiều quốc tịch như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Italia,….
5. Câu nói này được in nhiều lần trên báo “L’Annam Nouveau “của Nguyễn Văn Vĩnh 1931-1936.

Link: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=4962&CategoryID=41

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: