Vài điều cần trao đổi thêm về bài Nam Quốc Sơn Hà – Nguyễn Khắc Phi

nguyenthanhnam1210: Không chỉ đơn thuần copy và paste. Thật tốn công khi chỉnh sửa bài này. Dù sao nó cũng là tư liệu đáng tham khảo
I.
NAM QUỐC SƠN HÀ là một bài thơ có vị trí đặc biệt, không chỉ của nền văn học trung đại Việt Nam mà cả trong đời sống tinh thần, tâm linh của dân tộc Việt Nam. Thế nhưng quanh bài thơ ấy đang còn có không ít ý kiến khác nhau, đã từng  diễn ra nhiều cuộc tranh luận sôi nổi mang tính chất học thuật nghiêm túc.
II.
Về thời điểm ra đời, mặc dầu một vài tài liệu như Thiên Nam vân lục liệt truyện, Lĩnh Nam chích quái chép việc khi Lê Đại Hành đi đánh Tống có hai anh em ông Trương (Trương Hống, Trương Hát) – hai vị tướng của Triệu Quang Phục sau khi chết được Thượng đế phong cho làm thần – hiển linh giúp vua ngâm một bài thơ khiến quân Tống bại trận, nhiều công trình nghiên cứu vẫn gần như mặc nhiên thừa nhận bài thơ ra đời vào năm 1077, dưới thời Lý Nhân Tông, khi quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy kéo vào xâm lược nước ta.
Về địa điểm xuất hiện bài thơ, cũng có những cách trình bày khác nhau. Ở đền thờ Trương tướng quân, nhưng Trương tướng quân nào? (vì có hai Trương tướng quân: Trương Hống ,Trương Hát và đền thờ hai vị ở hai nơi khác nhau). Nếu dựa vào Đại Việt Sử kí toàn thư (N.K.P nhấn mạnh), thì đúng như PGS. Nguyễn Đăng Na đã chứng minh, đó là đền thờ người em, Trương Hát. (CON ĐƯỜNG GIẢI MÃ Văn học trung đại Việt Nam. NXB Giáo dục. Hà Nội. 2006, trang 87). Cách đây hơn 60 năm, GS. Hoàng Xuân Hãn đã chỉ ra điều ấy trong cuốn LÝ THƯỜNG KIỆT in từ năm 1949 tại NXB Sông Nhị,   sau được đưa vào bộ sách La Sơn Yên Hồ HOÀNG XUÂN HÃN (NXB Giáo dục. Hà Nội, tập II, trang 251 –563).
Về tác giả bài thơ, trong khi bức sơn mài ở Viện Bảo tàng Lịch sử đề rõ là Lý Thường Kiệt, GS. Nguyễn Tài Cẩn cũng mặc nhiên công nhận là Lý Thường Kiệt, GS. Hoàng Xuân Hãn nói là “Lý Thường Kiệt sai người giả làm thần nhân…đọc thơ mắng giặc. và báo trước rằng giặc sẽ thua” (La Sơn Yên Hồ HOÀNG XUÂN HÃN, Sách đã dẫn, trang 427), thì một vài nhà khoa học gần đây, đặc biệt là cố PGS. Bùi Duy Tân, đòi hỏi phải khẳng định dứt khoát Lý Thường Kiệt không phải là tác giả. PGS. Bùi Duy Tân đã ghi hẳn tác giả bài thơ trong các công trình nghiên cứu của mình là Vô danh thị, cho rằng việc xác định tác giả cần gắn liền với việc xác định thời điểm ra đời của bài thơ. Theo ông, bài thơ không chỉ đã xuất hiện lúc Lê Đại Hành chống Tống (vào khoảng năm 981) mà còn có thể sớm hơn: “Không có một tư liệu nào trong khoảng 30 văn bản Hán Nôm hiện còn, in ấn hoặc ghi chép bài thơ là do Lý Thường Kiệt hoặc tương truyền Lý Thường Kiệt viết ra. Lý Thường Kiệt có lẽ sai người nấp trong đền Thần ngâm to bài thơ đã có sẵn trong thần tích, để khích lệ tướng sĩ. Việc làm đó rất phù hợp với tín ngưỡng và tâm lí sĩ dân đương thời. Bài thơ đã gọi là của thần thì có thể gọi là thơ thần, thực chất cũng do con người (chắc là trí thức dân tộc: thiền sư, cư sĩ, nho sĩ, đạo sĩ) ở đầu thời tự chủ (thế kỉ X, XII…) sáng tác, lưu truyền rồi đưa vào truyền thuyết, thần tích về Trương Hống, Trương Hát. Đã là thơ thần, nằm trong một truyền thuyết, huyền tích, thần phả, thì bài thơ rõ ràng mang tính chất tập thể, truyền miệng, tính chất của một tác phẩm văn học dân gian, và tác giả của bài thơ, giống như các tác phẩm dân gian khác, là: Vô danh thị” (BÙI DUY TÂN. Tuyển tập. NXB giáo dục. Hà Nội, 2007, tr. 61). Ở một chố khác, ông còn nói mạnh mẽ hơn: “Dựa vào tư liệu trên (chỉ Lĩnh Nam chích quái) và nhiều truyền thuyết thần tích khác, có thể dự đoán: bài thơ xuất hiện dưới một hình thức nào đó từ thế kỉ VI thời Lý Nam Đế (hầu hết văn bản bài thơ còn lại đều có chữ Nam đế cư ở dòng thơ đầu). Rồi cứ tiếp tục lưu truyền, nhập thân vào truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát. Đến thời tự chủ thì bài thơ mới đủ điều kiện xuất hiện như một quốc thi chính thống” (Bùi Duy Tân. Sách đã dẫn, tr.54). Câu chuyện xuất xứ của bài thơ thần không chỉ là một đề tài khoa học phức tạp mà còn là một vấn đề chính trị, lịch sử tế nhị, nhạy cảm.Các tác giả sách giáo khoa (SGK), sau khi cân nhắc kĩ về nhiều mặt, đã chọn giải pháp mềm mở như ở Từ điển Bách khoa Việt Nam , xem “bài thơ tứ tuyệt Nam quốc sơn hà tương truyền là của Lý Thường Kiệt”.(NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2002, trang 804).
Về văn bản, theo PGS. Nguyễn Đăng Na, “hiện còn ít nhất từ 25 đến 35 văn bản về Nam quốc sơn hà”, nhưng văn bản “đáng tin cậy nhất” là “văn bản trong Đại Việt sử kí toàn thư” (Sách đã dẫn, trang 82 – 83):
                                               Nam quốc sơn hà Nam đế cư
                                               Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
                                               Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
                                               Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Về cơ bản, chúng tôi đồng ý với ý kiến trên, tuy nhiên, chỉ riêng về câu thứ hai, cũng còn những ý kiến khác nhau cần tiếp tục trao đổi. Chữ 分 (chữ thứ ba trong câu) trong tiếng Hán cổ trung đại cũng có hai cách đọc ứng với hai cách đọc ở âm Hán Việt là phân phận. Nên phiên là phân hay phận? Trong chuyên khảo Thử xác lập văn bản bài thơ Nam quốc sơn hà” viết năm 1986, PGS. Trần Nghĩa, sau một quá trình khảo cứu rất công phu, đã đề nghị phiên âm câu thứ hai là Tiệt nhiên phân định tại thiên thư. Bản dịch lần thứ nhất cuốn Đại Việt sử kí toàn thư phiên là phận định (ĐVSKTT, Tập I, NXB Khoa học xã hội, H., 1967, tr.238) song không phải ngẫu nhiên mà trong bản dịch lần thứ hai, dịch giả lại phiên là phân định và cả câu thứ hai được dịch nghĩa là: “(Ranh giới) đã phân định rạch ròi ở sách trời” (ĐVSKTT, Tập I. Ngô Đức Thọ dịch và chú thích, Hà Văn Tấn hiệu đính. NXB Khoa học xã hội. H.,1983, tr.291). Tôi tán thành cách phiên âm và dịch nghĩa câu này ở bản dịch lần thứ hai cuốn ĐVSKTT, song ở SGK, chúng tôi lại dùng bản phổ biến nhất, bản mà PGS. Bùi Duy Tân thường gọi là bản quen, phiên âm chữ này là phận và đảo vị trí hai từ phận định thành định phận. Bức sơn mài trong Viện Bảo tàng Lịch sử, các GS. Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Xuân Hãn, các cuốn Từ điển văn học, kể cả Từ điển Văn học –  Bộ mới của NXB Thế giới in năm 2004, đều dùng bản này. Chính tác giả Bùi Duy Tân, trong tất cả các bài viết của mình, cũng đều dùng bản quen này, tức bản có phiên âm câu thứ hai là “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” (BÙI DUY TÂN – Tuyển tập. NXB Giáo dục, H., 2007. Xin xem các trang 33, 35, 59, 60…). Nếu phiên âm là phận thì từ đó có nghĩa là gì? Địa phận hay danh phận? Nếu hiểu là địa phận thì khi dịch nghĩa, nội dung cơ bản không khác gì khi chọn phương án Tiệt nhiên phân định tại thiên thư. Bởi vậy, gần đây, PGS. Nguyễn Đăng Na đã đưa ra một cách lí giải mới: “Phận định là “xác định danh phận”. Trong câu, phận định “chỉ sự xác định địa vị của bậc đế vương”. Nếu dịch phận định là “địa phận đã định” thì vô tình chúng ta đã biến cụm từ Hán ngữ phận định thành cụm từ Việt ngữ định phận” ( Nguyễn Đăng Na. Sách đã dẫn, tr. 85). Chữ 分nếu đọc là phận quả có nghĩa là danh phận, trong đó có “danh phận đế vị”.
Hán ngữ đại từ điển cũng có chỗ giải thích phận định là “xác định đế vị”. Trao đổi chuyện này là điều lí thú, tuy nhiên, trước hết phải thống nhất được nên phiên âm chữ 分 là phân hay phận đã.
Về nghĩa của không ít chữ trong văn bản cũng đang còn những cách lí giải khác nhau, chúng tôi sẽ đề cập kĩ hơn ở phần dưới. Ở đây, chúng tôi chỉ bàn về một cách hiểu về chữ lỗ (虜) ở câu thứ ba. Mới đây, PGS. Nguyễn Đăng Na đã đưa ra một cách lí giải có phần khác trước: “Trong Hán ngữ, để chỉ về giặc đã có các chữ tặc (賊), khấu (寇). Trên chiến trường, khi đối phương bị bắt sống thì gọi là lỗ , tương đương với chữ “tù binh” trong tiếng Việt. Tại sao tác giả Nam quốc sơn hà không gọi bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết là tặc, là khấu mà gọi là lỗ? Ấy là vì có sự kiện năm Ất Mão 1075, người Tống gây hấn với nước ta. Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép rằng, Lý Nhân Tông sai Thường Kiệt và Tôn Đản đem mười vạn binh đi đánh, lấy các châu Khâm, Liêm, Ung…Thường Kiệt bắt sống người của ba châu này đem về. Nhà Tống thua trận. Do đó, quân Tống bấy giờ thực chất chỉ là “tù binh” – lỗ của ta. Thế mà, chỉ một năm sau – năm 1076, chúng lại đến lấn nước ta. Đấy là lí do tại sao tác giả Nam quốc sơn hà lại gọi quân Tống là lỗ…Có hai khái niệm gần nghĩa nhau nhưng khác về sắc thái biểu cảm. Đó là nghịch tặcnghịch lỗ. Đối với kẻ phản loạn, phản bội, hoặc kẻ dưới chống lại bề trên, nếu tỏ ý ghét thì gọi chúng là nghịch tặc, còn có ý miệt thị, khinh bỉ thì gọi là nghịch lỗ. Như vậy, từ nghĩa gốc tù binh, sau này, lỗ còn được dùng với nghĩa miệt thị bọn giặc nói chung. Vì thế trong thơ cổ xuất hiện các cụm từ “thoái lỗ thi” – thơ đuổi giặc thù. Tuy nhiên, trong văn cảnh cụ thể của bài Nam quốc sơn hà, nghịch lỗ vẫn hàm cả nghĩa gốc và nghĩa phái sinh.Cho nên, ta có thể dịch nghịch lỗbọn hạ lưu phản chủ, hoặc lũ tù binh phản chủ (N.K.P nhấn mạnh)” (Nguyễn Đăng Na. Sách đã dẫn, tr. 88 – 89).
Theo chúng tôi, cách lập luận trên chưa thoả đáng vì mấy lẽ sau:
1. Những người bị Lý Thường Kiệt bắt sống năm 1075 không phải tất cả là quân lính nên không thể gọi chung là lỗ.
2. Nếu “quân lính được thả về” (mới có điều kiện sang đánh ta) thì thân phận họ không còn là lỗ nữa.
3. Chưa tài liệu nào cho biết trong số tù binh được thả về có bao nhiêu trong số đó “phản chủ” quay sang đánh lại ta. Tất nhiên, xác định quan hệ giữa bọn này với ta là “chủ tớ” cũng không ổn. Xác định “quân Tống bấy giờ thực chất chỉ là tù binh của ta” lại càng không đúng.                                                                                                                          .
4. Lập luận như vậy cơ bản chỉ là bàn trên chữ nghĩa, chưa căn cứ vào thực tiễn lịch sử. Rất nhiều sử liệu đã cho ta biết đội quân do Quách Quỳ, Triệu Tiết đưa sang nước ta, đặc biệt là chủ lực kị binh, phần lớn đều lấy từ miền tây bắc của Trung Quốc xuống chứ không phải là những kẻ đã từng mang thân phận “tù binh” của ta, và nếu có, hẳn cũng không nhiều: “Bộ binh phần lớn lấy ở các doanh trại đóng gần biên thuỳ Liêu, Hạ. Một phần là quân mới mộ ở các lộ Hà bắc, Kinh đông. Lại thêm quân mộ dọc đường từ Kinh tới Ung Châu và quân khê động (chỉ các dân tộc thiểu số của Trung Quốc đương thời ở vùng biên giới. N.K.P). Tổng số hơn mười vạn, chia ra chín đạo”(La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn. Sách đã dẫn, tr.379).
5. Tác giả có nêu nghĩa phái sinh của từ lỗ nhưng lại xác định trong văn cảnh cụ thể ở đây, nó vẫn “hàm cả nghĩa gốc và nghĩa phái sinh”. Theo tôi, không nên nói chung chung như vậy. Như đã phân tích ở trên, chữ lỗ ở đây chủ yếu, nếu không muốn nói là chỉ được dùng với nghĩa phái sinh, tức nghĩa đã được Từ nguyên Từ hải xác định một cách đơn giản mà sáng tỏ là  đối địch phương đích miệt xưng (“cách gọi khinh miệt đói với kẻ địch”)  . Lỗ, với nghĩa phái sinh này được dùng rất phổ biến, thậm chí còn phổ biến hơn nghĩa gốc. Từ điển Từ nguyên, sau khi giải thích như trên, đã nêu ra một dẫn chứng rất tiêu biểu ở Cao tổ bản kỉ trong Sử kí của Tư Mã Thiên: 項武大怒,伏弩射漢王,漢王傷匈,乃捫足曰:虜中吾指! (Hạng Vũ đại nộ, phục nỗ xạ Hán vương, Hán vương thương hung, nãi môn túc viết: lỗ trúng ngô chỉ!, nghĩa là: Hạng Vũ cả giận, ngầm bắn Hán vương, Hán vương bị thương ở ngực nhưng lại sờ vào chân mà nói: “Thằng giặc bắn trúng ngón chân tao rồi!”). Hạng Vũ đang bắt giữ cha và vợ của Hán vương (Lưu Bang), Hán vương lại đang bị Hạng Vũ đánh cho tơi bời nhưng ông ta vẫn gọi Hạng Vũ một cách khinh miệt là lỗ!
Trên đây, chúng tôi chỉ mới nêu lên sơ bộ vài ý kiến về một số vấn đề mà các tác giả làm SGK đã phải trăn trở để tìm cách xử lí khi viết bài Nam quốc sơn hà. Dưới đây, chúng tôi sẽ tập trung bàn về bài viết CẦN DỊCH LẠI BÀI THƠ NAM QUỐC SƠN HÀ của Nguyễn Hùng Vĩ vừa đăng trên Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 3 (11) – ra tháng 5 năm 2011.
III. Lẽ ra, tên bài báo –  Cần dịch lại bài thơ Nam quốc sơn hà –  đòi hỏi người góp ý xét xem vì sao tác giả bài báo đề nghị “cần dịch lại” và lí do đề nghị dịch lại có xác đáng hay không, đánh giá những đóng góp của tác giả bài báo qua những kiến nghị sửa chữa những bản dịch hiện có như thế nào…nhưng tiếc thay, chúng tôi không thể làm được điều ấy vì bài báo viết rất lan man, không bám vào chủ đề.
Tuy đặt ở phần trên nhưng có thể xem những dòng dưới đây là kết luận khoa học và cũng là kiến nghị của Nguyễn Hùng Vĩ:
“Đến đây,văn bản bài thơ ở bản ghi Đại Việt sử kí toàn thư (bản xưa nay vẫn được coi là bản thông dụng nhất) phải được phiên và dịch là:
                                     Nam quốc sơn hà nam đế cư
                                     Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
                                    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
                                    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư,
Dịch nghĩa là:       Sông núi nước Nam, Nam đế quản trị
                                    Hiển nhiên đã định phận tại thiên thư
                                    Cớ làm sao bọn giặc ngỗ ngược đến xâm phạm
                                    Mà chúng bay, xem ra lại chịu chuốc lấy bại hư?!”
Có thể chỉ ra nhiều điều bất ổn ở đoạn văn dẫn trên. Hãy khoan bàn chuyện chữ 南 trong 南帝 nên viết hoa hay không, song viết thế nào thì cũng cần thống nhất trong một văn bản. Đã công nhận là “bản thông dụng nhất” sao lại nêu vấn đề “phải được phiên…là…”?
Đây là kiến nghị về dịch nghĩa (về những vấn đề khoa học khó như thế này, rất nên tránh dùng chữ “phải”). Còn dịch thơ thì sao? Nếu chỉ đặt vấn đề cần dịch lại “nghĩa” thì có lẽ nên đặt tiêu đề bài báo theo hướng như bài viết của PGS. Nguyễn Đăng Na: NAM QUỐC SƠN HÀ – định hướng một cách hiểu văn bản (Nguyễn Đăng Na. Sách đã dẫn, trang 81 – 90). Cần lưu ý thêm, như trên đã đề cập, ở Đại Việt sử kí toàn thư, nguyên văn chữ Hán là 分定, có thể phiên âm là phân định hoặc phận định chứ không phải như ở bản quen dùng đã đảo lại vị trí hai từ ấy. Dẫn nguyên văn như trên là chưa chính xác.
Dẫu sao, đây cũng là căn cứ để cho chúng tôi bàn luận,
1.Về từ quản trị ở câu thứ nhất.
Phần lớn các bản dùng trước đây cũng như bản dịch nghĩa ở SGK hiện hành đều dịch chữ (居) là ở. Đúng đây là chỗ đáng bàn nhưng tác giả bài báo lại coi như đã được thống nhất khẳng định. Bởi vậy, chúng tôi kết hợp nêu lên những ý kiến tương tự để cùng trao đổi. Trong chữ Hán, , ngoài nghĩa cơ bản và phổ biến nhất là ở, quả còn có nghĩa là trị lí nghĩa là cai quản, cai trị, quản lí, song trong văn cảnh của bài thơ này, nên hiểu theo nghĩa nào? GS. Hoàng Xuân Hãn thiên về nghĩa “trị lí” khi dịch câu thứ nhất thành “Sông núinướcNam vua Nam coi” (La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn. Sách đã dẫn, trang 427). Nhà thơ Ngô Linh Ngọc cũng có phần thiên về nghĩa này khi dịch câu thơ đầu thành “Đất nước Đại Nam, Nam đế ngự” (SGK Ngữ văn 7, Tập Một. NXB Giáo dục Việt Nam. H., 2010, trang 65) . Người có quan điểm rõ ràng nhất về điểm này là PGS. Nguyễn Đăng Na. Sau khi phân tích tự dạng ban đầu của chữ 居 (), ông chỉ ra rằng, “ là người có địa vị được tôn thờ”, mang ý nghĩa “người làm chủ”, “ở cương vị đứng đầu, người làm chủ phải xử lí mọi công việc”, “bởi vậy, “Nam đế cư” là  Nam đế xử lí mọi công việc mà bậc (hoàng) đế nước Nam phải đảm nhiệm”. “Nếu dịch là “ở” thì đế còn ý nghĩa gì nữa? Vì bất cứ ai, kể cả cỏ cây chim muông đang tồn tại trên Nam quốc, lẽ đương nhiên đều phải “ở” Nam quốc. Thế thì, ngôi vị (hoàng) đế với thường dân khác gì nhau?”. Ông luận giải tiếp: “Cũng có người cho rằng: Nam quốc sơn hà Nam đế cư “là một câu thơ rất sang, song cái sang nó nằm ở chữ đế…”. Vâng, đúng vậy! Song đế mới chỉ là “danh”. “Danh” phải đi đôi với “thực”! Hữu danh vô thực là điều xưa nay người Việt không ưa; Họ coi đó là hư danh. Giữa “danh” với ‘thực” nếu chỉ được chọn một, người Việt sẵn sàng hi sinh”danh” để giữ “thực”. (Nguyễn Đăng Na. Sách đã dẫn, tr. 84).
Chúng tôi cho rằng giữa nghĩa “ở” và nghĩa “ trị lí” không có gì mâu thuẫn nhau, song trong văn cảnh, “ở” vẫn là nghĩa bao trùm vì chữ ở đây đi với sơn hà, đi với phân định ( hoặc phận định hay định phận), đi với xâm phạm nên điểm nhấn là khẳng định chủ quyền lãnh thổ, ý cũng giống như câu 山川封域既殊 (Sơn xuyên phong vực kí thù, nghĩa      là “Núi sông bờ cõi đã chia”) trong phần mở đầu của bài Đại cáo bình Ngô vậy. Một khi đã làm chủ sơn hà với cương vị đế rồi thì có thể tự chủ làm tất cả mọi việc, tất nhiên trước hết và chủ yếu là trị vì đất nước. Chính vì quan niệm như trên nên tác giả SGK, bên cạnh việc cho học sinh tiếp xúc văn bản dịch của Lê Thước và Nam Trân trong đó câu thứ nhất được dịch là Sông núi nước Nam vua Nam ở, còn cho đọc thêm văn bản dịch của Ngô Linh Ngọc. Mặt khác, cũng không nên quan niệm nếu hiểu chữ là “ở” thì sẽ tầm thường hoá ý nghĩa của câu thơ. Đúng là không chỉ “cỏ cây chim muông” mà “con ong cái kiến” cũng đều phải “ở” () Nam quốc (như trong câu “điểu sào, sào tri phong, nghị huyệt, huyệt tri vũ”, nghĩa là: “Chim ở tổ, làm tổ mà ở nên biết gió; kiến ở hang, đào hang mà ở nên biết mưa”), song cũng có thể dùng cho vua chúa với nghĩa là “ở” như trong câu “Vô vi điện các, Xứ xứ tức đao binh” ( “Vô vi ở cung điện, Nơi nơi dứt chiến chinh”) trong bài Quốc tộ ( “Vận nước”)của thiền sư Pháp Thuận, thậm chí trong cả những mệnh đề mang tính triết lí cao  như “trần lạc đạo” ( “Ở cõi trần, vui với đạo”, tên một bài phú Nôm của Trần Nhân Tông). Xét về một phương diện nào đó, khi hiểu chữ trong  Nam quốc sơn hà là “ở” thì giá trị tố cáo của câu thơ lại còn cao hơn: Đến chân lí sơ đẳng, con ong cái kiến cũng còn có chỗ ở không dễ bề “xâm phạm” (hãy thử xâm phạm vào tổ ong bò vẽ hay hang kiến lửa xem sao!), mà bọn “ nghịch lỗ” cũng không hiểu!
2. Về từ thiên thư trong câu thơ thứ hai.
Nguyễn Hùng Vĩ không nêu ra một kiến nghị nào hết về việc dịch hai câu thứ hai và thứ ba, ngoại trừ việc lí giải không thể nào chấp nhận về hai chữ thiên thư. Tác giả đã dùng đến khoảng một nghìn chữ để giải thích hai chữ này nhưng chính ở đây lại bộc lộ rất nhiều sơ hở . Mở đầu phần này, tác giả khẳng định và nhận xét một cách võ đoán: “Hai chữ này vốn gây tranh luận từ dăm năm nay trên các diễn đàn, rất tiếc và cũng lạ là, các ý kiến đều chủ yếu dựa trên suy luận mà rất yếu về sở cứ. Hán ngữ đại từ điển cho ta ngữ liệu về 6 cách dùng và cũng là 6 nghĩa của thiên thư. Nghĩa 1:…Nghĩa 2:… Nghĩa 3:… Nghĩa 4:…Nghĩa 5:…”. Người đọc ngạc nhiên vì không thấy nghĩa 6 ở đâu! Có lẽ tác giả chưa đọc bài viết đã nêu trên của PGS. Nguyễn Đăng Na đăng trên Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ số 2 năm 2002, sau đó đã được đưa vào tuyển tập CON ĐƯỜNG GIẢI MÃ Văn học trung đại Việt Nam. Ở đây, PGS. Nguyễn Đăng Na cũng đã dựa vào Hán ngữ đại từ điển để trình bày một cách chính xác, rõ ràng ba nghĩa của thiên thư, đồng thời cũng chỉ ra tương đối thoả đáng nên hiểu hai chữ thiên thư trong Nam quốc sơn hà theo nghĩa nào. Chúng ta hãy xem tác giả Nguyễn Hùng Vĩ đã dựa vào “sở cứ” là Hán ngữ đại từ điển để giải thích nghĩa của hai chữ thiên thư ra sao.
“Nghĩa 1: chiếu thư của Hoàng Đế”. Dịch như vậy là sai vì Hán ngữ đại từ điển ghi là: “帝王的詔書” (Đế vương đích chiếu thư  , nghĩa là “chiếu thư của các bậc đế vương” Hán ngữ đại từ điển. Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 1998, Tập 2, trang 1432). Để minh hoạ cho nghĩa này, ngay dưới đó có ba ví dụ, một của Vương Bột đời Đường, một của Vương An Thạch đời Tống và một của Chu Lượng Công đời Thanh, trong đó, thiên thư đều chỉ chiếu thư của những ông vua cụ thể trong lịch sử Trung Quốc. Vì hiểu nhầm (hay đọc nhầm) đế vương (không viết hoa) là (thành) Hoàng Đế (viết hoa), nên tác giả bài báo đã bình luận: “Rất có thể nghĩa 1 là nghĩa chính mà tác giả bài thơ đã sử dụng. Hoàng Đế là vị vua thời cổ trong truyền thuyết có công ổn định địa bàn, phát minh nhiều phương pháp chế tạo xe thuyền lễ phục, đo đạc tính toán. Các sách cổ như Hệ từ truyện, Sơn hải kinh, Đại Đái lễ kí, Sử kí của Tư Mã Thiên đều nhắc đến. Vậy chiếu của Hoàng Đế là căn cứ dĩ định, là chân lí tiên thiên cho mọi biện luận, biện giải, trong đó có vấn đề chủ quyền các quốc gia”. Đúng là cái sai này kéo theo cái sai khác. Nếu đúng như thế thì hoá ra một vị vua trong truyền thuyết của Trung Hoa cổ đã xác định danh phận đế hoặc ranh giới lãnh thổ cho đất nước ta tự ngàn xưa!
 “Nghĩa 2: Đạo gia gọi kinh do Nguyên thuỷ Thiên Tôn (vị thần tối cao theo tín ngưỡng Đạo giáo. N.K.P) nói ra hoặc sách gửi gắm những lời các thiên thần ban xuống là thiên thư”. Về nghĩa thứ hai, tác giả đã dịch đúng, tuy nhiên , ngay sau đó, tác giả lại tuỳ tiện lấy hai dẫn chứng minh hoạ cho nghĩa thứ hai làm nghĩa thứ ba và nghĩa thứ tư.
“Nghĩa 5 (ứng với nghĩa thứ 3 ở Hán ngữ đại từ điển. N.K.P): Dùng để tỉ dụ thứ văn tự khó đọc hoặc thứ văn tự khó hiểu”. Dịch như vậy là chưa thật đúng. Nguyên văn ở Đại Hán ngữ từ điển là: 比喻難認的文字或難懂的文章 (tỉ dụ nan nhận đích văn tự hoặc nan đổng đích văn chương, nghĩa là: tỉ dụ thứ sách khó đọc – hiểu theo nghĩa là khó nhận ra mặt chữ –    hoặc văn chương khó hiểu). Không nên tuỳ tiện đổi “văn chương” thành “văn tự”. Thật khó giải thích thế nào là Văn tự khó hiểu! Từ điển Từ nguyên cũng nêu ra 3 nghĩa y như Hán ngữ đại từ điển và cũng sắp xếp theo trình tự như vậy, chỉ thay từ “chiếu thư” bằng ‘chiếu sắc” (Từ nguyên.Thương vụ ấn thư quán. Bắc Kinh, 1979, trang 373). Không thể xếp nghĩa thứ ba lên trên nghĩa thứ hai vì đó là nghĩa đẫn thân của nghĩa thứ hai: vì là tác phẩm của thần linh nên khó đọc, khó hiểu! Chính vì vậy, từ điển Từ hải chỉ nêu hai nghĩa trên và nghĩa thứ hai cũng được giải thích một cách dung dị:迷信者謂天神寫的書或文字 (Mê tín giả vị thiên thần tả đích thư hoặc văn tự, nghĩa là: “ Người mê tín gọi sách hoặc chữ do thiên thần viết ra là thiên thư”. Từ hải – Súc ấn bản. Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 1989, trang 1379). Mặc dầu tán thành cách giải thích của PGS. Nguyễn Đăng Na về mối quan hệ giữa từ Thiên thư  với Đạo giáo song người làm SGK không thể đưa truyền thuyết về Nguyên thuỷ Thiên Tôn vào để giải thích một cách dài dòng được. Nam quốc sơn hà là một bài thơ giàu tính biểu ý, cũng có thể gọi là một bài thơ giàu  tính  chính luận, trong đó hai câu đầu là hai luận cứ, một dựa trên chân lí đời thường, một mang màu sắc tâm linh phù hợp với đặc điểm tâm lí và tín ngưỡng của người đương thời. Chỉ cần làm cho học sinh nắm được như thế là đủ. Chính với quan niệm trên, những người làm SGK đồng tình với cách dịch Thiên thư một cách nôm nalà Sách trời mà cho rằng không nên giữ nguyên là Thiên thư như đề nghị của Nguyễn Hùng Vĩ. PGS. Nguyễn Đăng Na không chỉ dùng Hán ngữ đại từ điển mà cả Đạo giáo đại từ điển nữa  để giải thích từ Thiên thư song cũng chưa đề nghị giữ nguyên hay dịch như thế nào. Vả lại, nghĩa của “Thiên thư” trong thư tịch Trung Hoa là như vây song khi qua Việt Nam, nhất là khi đã hoà nhập với tín ngưỡng dân gian bản địa thì có giữ như nguyên nghĩa hay không là chuyện khác. Ở đây, muốn giải quyết được rốt ráo vấn đề, lại còn phải tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng nữa. Nếu giữ nguyên từ Thiên thư thì phải chú thích, mà như trên đã trình bày, sẽ rất khó chú thích để cho học sinh ở lứa tuổi 12 – 13 có thể hiểu được một cách tường tận.
3. Về cách hiểu câu thơ cuối cùng: 汝等行看取敗虛 (Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư).
Đây là vấn đề cần trao đổi ý kiến nhiều nhất với tác giả Nguyễn Hùng Vĩ.
Thật ra, trước đây gần như mọi người đều thống nhất về cách hiểu nội dung câu cuối của bài thơ, mặc dầu vẫn còn đôi chổ khác biệt trong việc giải thích một vài từ cụ thể, đặc biệt là hai chữ hành khan. Cuộc tranh luận diễn ra quanh câu thơ cuối bắt đầu từ khi GS. Nguyễn Tài Cẩn đưa ra cách hiểu mới về hai chữ “hành khan” vào năm 1979. Giáo sư cho rằng cần ngắt nhịp câu thơ này theo mô hình ¾ (Nhữ đẳng hành / khan thủ bại hư) và cho rằng cần hiểu hành là từ chỉ số nhiều (theo Giáo sư, nhữ đẳng hành nghĩa là chúng bay ).Hán ngữ đại từ điển, chữ 行, với cả ba cách đọc ứng với ba cách đọc Hán Việt (hành, hạnh, hàng) có tất cả là 63 nghĩa. Quả thật, với cách đọc hàng (cũng đã có người góp ý với GS. Nguyễn Tài Cẩn, nếu hiểu là từ chỉ số nhiều thì phải đọc là hàng), chữ 行 có 10 nghĩa, trong đó nghĩa thứ 9 “指人,表示複數” (chỉ nhân, biểu thị phức số, nghĩa là: “chỉ người, biểu thị số nhiều”, giống như “們, 等” (môn, đẳng). Bởi vậy, PGS. Phan Văn Các, nguyên viện trưởng Viện Hán Nôm, đã cho rằng không thể hiểu chữ hành như vậy vì sau hai chữ 汝等 (nhữ đẳng), vốn đã có thể dịch là “chúng bay” rồi thì không thể có một chữ cũng mang nghĩa là đẳng nữa.
Vấn đề vẫn chưa được giải quyết ngả ngũ, thì 19 năm sau, trong cuốn Ảnh hưởng HÁN VĂN LÍ TRẦN qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn, GS. Nguyễn Tài Cẩn lại đưa ra một cách hiểu mới về câu thơ cuối qua một đoạn văn dài mà Nguyễn Hùng Vĩ đã trích một cách đầy đủ, xin miễn dẫn lại. Nhân buộc phải bàn về đoạn văn này, xin phép bạn đọc được tâm sự đôi điều để tránh hiểu nhầm. GS. Nguyễn Tài Cẩn là một nhà khoa học lớn của đất nước, một người thầy tài năng, và với riêng tôi, anh còn là một người đồng hương rất gần gũi với cả gia đình . Trong các bài viết của mình, nhất là các bài về Thơ Đường và Truyện Kiều, tôi đã trích dẫn không ít ý kiến của anh, xem đó là những luận cứ đáng tin cậy. Tôi không chỉ kính phục mà còn bái phục anh, đặc biệt khi thấy anh giải mã bài thơ Vũ trung sơn thuỷ  ( “Sông núi trong mưa”) của vua Thiệu Trị để đọc được 128 cách theo kiểu xáo trộn chữ của một bài thơ viết theo thể hồi văn. Chính tôi là một trong ba người được Giáo sư “ra lệnh” buộc đọc góp ý cho cuốn sách nghiên cứu về Nguyễn Trung Ngạn nói trên. Biết trình độ không phải là người có thể góp ý công trình của Giáo sư, tôi một mực từ chối, Giáo sư liền rút trong túi ra bản in sẵn Lời nói đầu,trong đó đã có lời cảm ơn các anh Vương Lộc, Ngô Đức Thọ và tôi. Tôi hết sức cảm động và kinh ngạc về tinh thần khiêm tốn và tác phong thực sự cầu thị của anh khi tiếp nhận những điều góp ý rất không đáng kể của mình. Cuối cùng, vì mối quan hệ thân tình, vừa giở trang bản thảo có đoạn văn dài mà tác giả Nguyễn Hùng Vĩ đã trích, tôi đành bạo nói: “ Riêng chỗ này thì thú thực là em chưa thông song tự thấy là chưa đủ sức để trao đổi ý kiến với anh”. Anh trầm ngâm suy nghĩ và không thấy phản ứng gì. Thấm thoắt 13 năm đã trôi qua và từ đó tôi cũng không có dịp gặp lại anh. Cho đến nay, lại có dịp đọc đoạn văn của anh được trích trong bài báo của Nguyễn Hùng Vĩ…
Mở đầu bài báo, tác giả viết: “Một đề xuất mới của GS. Nguyễn Tài Cẩn về việc dịch câu cuối trong bài thơ Nam quốc sơn hà…rất cần được tiếp tục triển khai. Nhiều khi, một kiến giải khoa học hữu lí nhưng vì phương tiện truyền thông ít thuận lợi nên không đến được với nhiều người và không được góp phần nâng cao trí thức cộng đồng, để cho những ý kiến chưa chính xác tồn tại lâu dài, cái sai này nối tiếp cái sai khác. Tôi viết bài này trong niềm nhớ thương người thầy vừa đi xa, đồng thời nối gót làm rõ ý của thầy hơn dù biết kiến thức của mình vẫn hết sức nông cạn. Tôi sẽ trích dài một đoạn viết của thầy mà khi đọc thấy rất tâm đắc trên nhiều mặt…”
Tôi “chưa thông” chủ yếu là vì hai câu thơ dịch ở cuối mà Giáo sư đưa ra;
                                     “Cớ sao lúc bọn giặc ngang ngược đến xâm phạm
                                       Các người lại chịu nhận lấy sự thua thiệt?!”
Đã hơn mười năm, hai câu thơ dịch này cứ như một ám ảnh đối với tôi. Tôi cứ miên man suy nghĩ: Tại sao lại thêm chữ “lúc” vào câu hỏi làm cho ngữ khí yếu hẳn đi? Tại sao lại chuyển bộ phận chủ chốt của một câu cật vấn nguyên nhân với hai chữ như hà đanh thép thành một đoạn ngữ chủ yếu mang tính chất tường thuật? Tại sao hai chữ bại hư có sắc thái biểu cảm mạnh mẽ lại dịch thành “thua thiệt”? Và cuối cùng, điều quan trọng nhất, các người ở đây là chỉ ai? Quân ta hay quân địch?…
Đọc câu dịch nghĩa  trúc trắc, tối nghĩa của Nguyễn Hùng Vĩ : “Mà chúng bay, xem ra lại chịu chuốc lấy bại hư?!”, tôi lại càng băn khoăn hơn. Dẫu sao, đọc bài báo, tôi cũng hiểu rõ hơn vì sao Giáo sư Cẩn lại thay đổi ý kiến, từ chỗ cho nhữ đẳng là chỉ quân địch chuyển thành cho là chỉ quân ta. Dĩ nhiên là lập luận của Nguyễn Hùng Vĩ chưa hẳn đã hoàn toàn trúng với ý của Giáo sư.
Nguyễn Hùng Vĩ viết:
 “Tập hợp sự nhất quán nhiều yếu tố:
Hoàn cảnh phát ngôn: Chiến trận trong tình thế giằng co quyết liệt.
Không gian phát ngôn: Trong (hoặc trên như dị bản khác) đền ở phía quân ta.
Chủ thể và tư cách phát ngôn:Thần Trương Hống, Trương Hát hiển linh giúp quân ta.
Hướng phát ngôn: Cho quân ta.
Đối tượng tiếp nhận phát ngôn: Quân ta.
Lẽ hằng nhiên, hai câu thơ cuối trong bài được chúng tôi dịch như trên là hữu lí”
(Lẽ ra, tác giả ít nhất còn có thể nêu một dòng nữa:
Mục đích phát ngôn: khích lệ quân ta!).  
Tất cả những điều trên đều tuyệt đối chính xác, song vấn đề giao tiếp trong thực tiễn không hề đơn giản. Ở đây, tôi chỉ nêu lên ý kiến riêng của mình, coi như tự giải đáp một thắc mắc đang tồn tại bấy lâu.
Người xưa đã có câu chỉ tang mạ hoè. Trong giao tiếp gián tiếp, người nhận trực tiếp phát ngôn hoặc người có địa chỉ nhận phát ngôn  chưa hẳn đã là người nhận đích thực theo ý muốn của người phát ngôn. Ở hai câu sau của Nam quốc sơn hà, không phải là chỉ tang mạ hoè mà là mạ tang kích hoè. Chất vấn –  nói là lăng mạ cũng đúng và cũng đáng- nghịch lỗ là để kích động quân ta. Hiểu như vậy thì cho rằng nhữ đẳngquân địch không có gì là sai trái và phi lôgic.
Vì cứ đinh ninh nhữ đẳngquân ta nên người viết đã giải thích không đúng chử hành trong cụm từ hành khan do cứ chăm chăm đi tìm nghĩa của cả cụm như một chỉnh thể. Tác giả khẳng định hành khan cũng như 且看 (thả khan) rồi dịch thả khan thành và xem, xem ra (dịch thế là chưa ổn), rồi lại liên hệ với rất nhiều câu thơ của Việt Nam có từ xem ra, sau đó lại quay về liên hệ với nghĩa trong Nam quốc sơn hà. Cứ lòng vòng giải thích như thế nên càng giải thích càng rối.
Như đã nói trên, theo Hán ngữ đại từ điển, chữ 行 có 63 nghĩa; riêng chữ đọc là hành đãcó 38 nghĩa. Ở nghĩa thứ 29, lại có 4 nghĩa nhỏ mang những sắc thái khác nhau. Cụ thể là:
– 29a)將,將要 (tương, tương yếu, nghĩa là sẽ)
– 29b)又, 也, 再(hựu, , tái nghĩa là lại, cũng, một lần nữa)
– 29c) 輒, 即 (triếp: nhất định là, thì; tức: liền, ngay lập tức)
– 29d) 正,當 (chính, đương, nghĩa là đúng lúc, đang lúc).
PGS. Nguyễn Đăng Na cho nghĩa 29b là phù hợp với văn cảnh của Nam quốc sơ hà vì quân Tống đã thua một keo rồi, chắc chắn sẽ có keo thứ hai. Riêng tôi, tôi thấy chữ hành có hàm nghĩa cực kì phong phú và súc tích, có thể tích hợp được cả 3 nghĩa 29a, 29b và 29c: Quân Tống, “nghịch lỗ”, gieo gió (“lai xâm phạm”) thì phải gặt bão (“thủ bại hư”). GS.Lê Trí Viễn đã rất tinh tế khi dịch ý ba chữ “thủ bại hư” là tự rước lấy thất bại không còn mảy nào (LÊ TRÍ VIỄN – Một đời dạy văn, học văn – TOÀN TẬP. NXB Giáo dục. Hà Nội, 2006, Tập 1, tr.415). Đó là việc đã từng xẩy ra và lại tái diễn (nghĩa 29b), ắt sẽ xẩy ra (nghĩa 29a), là việc trông thấy nhãn tiền (nghĩa 29c).
Thật ra, trong Hán ngữ đại từ điển, có mục từ 行看 và hành khan có nghĩa là 且看 thật,
song thả khan không có nghĩa là và xem, xem ra mà cũng có thể dịch thành các nghĩa như chúng tôi đã trình bày ở trên vì Hán ngữ đại từ điển cũng giải thích 且 (thả) có nghĩa là 復(phục: lại một lần nữa), 又(hựu: lại); Từ hải (Sách đã dẫn) cũng giải thích thả có nghĩa là 將要 (tương yếu: sẽ).
IV.Qua bài viết của Nguyễn Hùng Vĩ, bạn đọc có thể nghĩ không đúng về trình độ cũng như tinh thần, thái độ của các nhà nghiên cứu văn học nước ta, trước hết là những nhà biên soạn SGK. Dù quanh bài Nam quốc sơn hà vẫn có thể còn xẩy ra tranh luận, song về cơ bản đã có “định luận” về nó, và việc đưa bài thơ ấy vào chương trình Ngữ văn cấp THCS là hoàn toàn đúng đắn. Người biên soạn SGK sẵn sàng tiếp thu tất cả ý kiến của mọi người, song phải có chủ kiến, phải tìm cách trình bày dung dị, đơn giản về những vấn đề nhất thiết phải học mà có những khía cạnh không dễ và không đơn giản để các em học sinh có thể tiếp thu được cái cốt lõi./.
+ + + + +

BÀI THƠ “NAM QUỐC SƠN HÀ” CÓ TỪ BAO GIỜ?

“Nam Quốc Sơn Hà” (1) là một bài thơ với nội dung khẳng định nền độc lập tự chủ của dân tộc ta với nhà Tống phương bắc. Đây là bài thơ mà nhiều người đã từng nghe qua, nhưngcó vài điều liên quan đến bài thơ mà hậu thế chúng ta đến nay vẫn chưa biết. Những nghi  vấn như: bài thơ trên do ai sáng tác? Bài thơ xuất hiện lần đầu tiên vào thời gian nào? Bốicảnh lịch sử liên quan đến nội dung của bài thơ ra sao?

Nghi vấn về thời điểm xuất hiện của bài thơ

Nhiều người cho rằng bài thơ trên xuất hiện lần đầu tiên vào thời vua Lý Nhân Tông (2) trong trận đánh Tống trên sông Như Nguyệt năm 1076-1077 (3). Lý Thường Kiệt đã cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát (4) đọc lên vào lúc nửa đêm, nhằm mục đích làm giảm tinh thần chiến đấu của quân Tống và cũng nhân đó làm tăng thêm tinh thần đánh giặc của quân ta.

Thế nhưng, trong quyển sách “Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn” do nhóm tác giả thuộc Hội Sử học Hà Nội, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng bài thơ này ra đời vào thời Tiền Lê và đã được Lê Hoàn sử dụng trong trận đánh Tống năm 981. Ngoài ra, trong Tạp chí Hán Nôm số 5, năm 2005, bài “Nam Quốc Sơn Hà và Quốc Tộ – Hai kiệt tác văn chương chữ Hán ngang qua triều đại Lê Hoàn”, phó Giáo Sư Bùi Duy Tân cũng đã khẳng định rằng bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” có từ thời Tiền Lê.

Hơn nữa, trong bài “Lịch sử, sự thật và sử học” được đăng trong báo Tổ Quốc, số 401 tháng 1-1988, Giáo Sư Hà Văn Tấn có viết rằng: “Không một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả”. Không những thế, trong bài “Pháp Thuận và bài thơ thần nước Nam sông núi”, một lần nữa thiền sư Lê Mạnh Thát cũng đã khẳng định bài thơ này xuất hiện dưới thời vua Lê Đại Hành (5) đánh Tống.Vậy đâu là sự thật?

Nội dung bài thơ

Nhằm giúp tìm hiểu xem bài thơ trên có từ thời nào, trước hết chúng ta hãy xem xét nội dung của bài thơ. Mặc dù hầu hết mọi người đều hiểu ý nghĩa của bài thơ này, tuy nhiên có những điều mà nhiều người thuộc bài thơ trên vẫn chưa hiểu hết. Nhất là hai chữ “Thiên Thư” đã được hầu hết các dịch giả xem là danh từ chung, trong khi có ý kiến cho rằng “Thiên Thư” chính là tên của một bộ kinh bên Trung Hoa; và hai chữ “Thiên Thư” trong “Nam Quốc Sơn Hà” chính là danh từ riêng để chỉ bộ sách đó (6).

Như vậy, nội dung của bài thơ trên tạm diễn giải như sau: sông núi nước nam là của vua nam, ranh giới Tống – Việt đã được phân định rõ ràng trong kinh “Thiên Thư”. Như các người đã biết, đây là bộ sách do Trời gửi xuống dạy như vậy. Tại sao các người dám cãi lại Sách Trời, dám sang đây xâm phạm ranh giới mà Trời đã phân chia? Cãi lại Sách Trời tức là cãi lại Ý Trời, mà cãi lại Ý Trời thì hậu quả thế nào các người sẽ biết: bị đánh tơi bời chứ chẳng phải chơi!

Việc Lý Thường Kiệt cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát đọc thật to để nhắc lại cho quân Tống biết rằng việc làm của họ là trái với Thiên Thư, trái với những điều mà họ tin tưởng trong Sách Trời thì trước sau gì họ cũng sẽ bị quân Việt đánh bại. Mục đích của Lý Thường Kiệt nhằm làm nhụt nhuệ khí của quân Tống, dẫn đến việc bại trận mà sau đó quân Tống đã phải rút lui khỏi nước ta.

Nguồn gốc và ý nghĩa của hai chữ “Thiên Thư” trong bài thơ

Thiên Thư là tên của một bộ sách được soạn dưới thời vua Tống Chân Tông (7). Vào thời này, nước Tống bị nước Liêu phía bắc uy hiếp, bắt phải cắt đất dâng và cống nạp thường xuyên. Phía tây, Tống bị Tây Hạ nhiều lần đưa quân tấn công. Phía nam thì Đại Cồ Việt mạnh lên nên không chịu thần phục. Thay vì triều đình nhà Tống tìm cách củng cố lại đất nước, làm cho dân giàu, binh hùng, tướng mạnh…để các nước xung quanh thần phục, nhưng vua Tống Chân Tông đã không làm như vậy. Vua Tống nghe theo lời của Tể tướng Vương Khâm Nhược cho làm lễ tế cáo trời đất, trấn phục bốn phương để các nước xung quanh sợ mà thần phục.

Năm tên gian thần thời đó mà Tống sử gọi là “ngũ quỷ”, đó là Vương Khâm Nhược, Đinh Vị, Trần Nghiêu Tẩu (8), Lưu Thừa Khuê (9) và Trần Bành Niên (10) đã hiến kế rằng: để cho việc cúng tế được linh nghiệm và cũng để cho dân chúng thật lòng tin tưởng vào chuyện này, cần phải có bộ sách do nhà trời ban xuống, đó là “Thiên Thư”. Vua Tống đã đồng ý cho soạn bộ sách này; đến năm 1019 thì “Thiên Thư” đã được soạn xong, vua cho người đem giấu trong hang núi Càn Hựu, phía nam Trường An. Rồi sau đó cho người loan tin rằng: “từ xưa, trời có ban cho chúng ta một bộ sách, đó là Thiên Thư, được cất giữ

trong hang núi Càn Hựu” (11).

Nội dung bộ Thiên Thư nói rằng: vua Tống là con của trời, do trời sai xuống trần gian để cai trị thiên hạ. Vì vậy, dân chúng ở phía bắc là Địch, phía tây là Nhung, phía nam là Man và phía đông là Di là các sắc dân phải nghe theo lời của trời mà quy phục thiên tử, tức vua Tống Chân Tông thời bấy giờ. Sách cũng định rõ biên giới giữa Trung Hoa với các nước xung quanh như: đông, tây, nam, bắc. Sau đó, vua Tống Chân Tông cho người trốn vào trong các đền thờ linh hiển nhất nước để đọc cho dân chúng nghe, làm cho người dân tin rằng không những trời gửi sách xuống mà còn sai thiên tướng xuống đọc. Vì vậy dân chúng khắp nơi rất tin tưởng và ghi lại những điều do trời dạy dỗ.

Kế đến, vua Tống cho người làm lễ tế cáo trời đất khắp nơi, trước tiên là lập đàn tế lễ ở những chỗ linh hiển nhất nước như miếu Khổng Tử (12), núi Thái Sơn (13). Rồi người dân ở các châu, các quận huyện khắp nơi trên cả nước đều lập đàn tế cáo trời đất. Mọi người đều tin tưởng rằng bộ sách kia là do trời ban xuống, rằng những lời trong sách là những lời dạy của trời.

Bài thơ có từ thời vua Lê Đại Hành đánh Tống?

Có thuyết cho rằng bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” có từ thời Tiền Lê khi vua Lê Đại Hành đánh Tống năm 981. Những người ủng hộ thuyết này dựa vào câu chuyện trong “Lĩnh Nam Trích Quái” có tựa đề “Truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt” (14).

Theo câu chuyện này thì khi vua Tống Thái Tổ (15) sai Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng (16) đem quân sang xâm lược nước ta, vua Lê Đại Hành nằm ngủ thấy hai vị thần hiện về báo mộng. Hai vị thần nói với vua, đại ý như sau: anh em thần tên là Trương Hống,Trương Hát, là tướng của Triệu Việt Vương. Anh em thần vì nghĩa mà chết nên được phong làm tướng trong các thần linh, thống lĩnh quỉ binh. Nay quân Tống xâm phạm nước ta, anh em thần đến yết kiến, cùng giúp vua đánh giặc để cứu dân chúng.

Vua Lê Đại Hành tỉnh dậy mừng rỡ vì tin rằng có thần giúp đỡ. Đêm sau vua lại nằm mơ thấy hai người, một người dẫn đoàn quỉ áo trắng từ phía Bình Giang kéo lên, còn một người dẫn đoàn quỉ áo đỏ từ phía sông Như Nguyệt kéo xuống, cả hai đoàn quân xông vào trại giặc mà đánh. Sau đó thần còn ngâm bài thơ như sau:

Nam quốc sơn hà nam đế cư

Hoàng thiên dĩ định tại Thiên Thư

Như hà bắc lỗ xâm nam chí

Bạch nhận phiên thành phá trúc dư

Dịch là:

Sông núi nước nam, vua nam ở

Sách Trời định phận rõ non sông

Cớ sao giặc bắc sang xâm phạm?

Bây hãy chờ gươm chém bại vong

Quân Tống nghe vậy nên hoảng sơ, đạp lên nhau mà chạy. Một số thì bị quân ta giết, một số thì bị bắt sống. Nhờ vậy mà quân ta phá được Tống.

Bài thơ có từ thời Lý Thường Kiệt đánh Tống?

Nhiều người cho rằng bài thơ “Nam quốc sơn hà” xuất hiện vào thời Lý. Những người ủng hộ thuyết này dựa vào câu chuyện tương tự như vậy đã được sử gia Ngô Sĩ Liên chép lại trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Năm 1076, vua Tống Thần Tông (17) sai Quách Quỳ (18) và Triệu Tiết (19) mang quân sang đánh nước ta. Đầu năm 1077, quân Tống đang đóng phía bên kia bờ sông Như Nguyệt và chuẩn bị tấn công, nhằm phá  tan phòng tuyến này trước khi kéo quân về đánh Thăng Long với ý định bắt sống vua Lý Nhân Tông , thái hậu Ỷ Lan và Lý Thường Kiệt. Nửa đêm trước khi quân Tống tấn công phòng tuyến Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát ở bên này sông, giả làm thần và đọc thật to bài thơ như sau:

Nam Quốc Sơn Hà nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Nghĩa là:

Sông núi nước nam, vua nam ở

Rành rành đã định tại Sách Trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời

Lý Thường Kiệt cho người giả làm hai vị thần Trương Hống, Trương Hát đọc bài thơ với mục đích uy hiếp tinh thần quân Tống, làm cho quân Tống tin rằng họ đang bị thần “quở trách” về việc sang xâm lược nước ta. “Thần” cũng khiển trách việc làm của quân Tống là cãi lại Ý Trời, bởi vì Sách Trời, tức Thiên Thư, đã phân định lãnh thổ rõ ràng, đất phương nam là của dân nam nên quân Tống không có quyền xâm phạm. Bài thơ đã góp phần giúp quân ta đánh thắng quân Tống trên sông Như Nguyệt.

Bối cảnh ra đời và sự giống nhau giữa hai câu chuyện:

Câu chuyện về sự ra đời của bài thơ ở cả hai thuyết trên đều được lấy từ những truyền thuyết dân gian. Những người cho rằng bài thơ ra đời vào thời vua Lê Đại Hành đánh Tống năm 981 thì dựa vào câu chuyện “Hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt”. Đây là câu chuyện do dân gian truyền lại và đã được Trần Thế Pháp ghi trong “Lĩnh Nam Trích Quái” vào thế kỷ 15. Còn những người tin rằng bài thơ trên ra đời vào thời kỳ Lý Thường Kiệt thống lãnh ba quân đánh Tống bên sông Như Nguyệt năm 1076-1077 thì dựa vào câu chuyện mà sử gia Ngô Sĩ Liên ghi lại trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư vào thế kỷ 15, và cả hai câu chuyện đều do dân gian truyền lại.

Xét về bối cảnh ra đời của bài thơ ở hai thuyết nêu trên có nhiều tình tiết giống nhau. Cũng vẫn là cuộc kháng chiến chống quân Tống, cũng do hai vị thần là hai anh em Trương Hống, Trương Hát, là tướng của Triệu Việt Vương đọc bài thơ và câu chuyện cũng xảy ra trên cùng một nơi, đó là sông Như Nguyệt. Về nội dung, mặc dù giữa hai bài thơ có vài từ khác nhau nhưng nội dung chính giống nhau, nhất là cả hai bài thơ đều có hai chữ “Thiên Thư”, nói lên việc vi phạm “Sách Trời” của quân Tống.

Điều này có thể giải thích rằng hai câu chuyện trong “Lĩnh Nam Trích Quái” và “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” là một, nhưng vì do dân gian truyền lại nên có đôi chút khác nhau, nhất là sự khác nhau về thời điểm ra đời của bài thơ: một thuyết cho rằng câu chuyện trên xảy ra vào thời quân ta đánh Tống năm 981, dưới thời vua Lê Đại Hành, còn thuyết kia thì cho rằng câu chuyện xảy ra khi quân ta đánh Tống đầu năm 1077 vào thời vua Lý Nhân Tông, do Lý Thường Kiệt chỉ huy.

Đâu là sự thật?

Có lẽ rất khó phân biệt thuyết nào đúng hơn nếu chúng ta không hiểu hết nội dung của bài thơ. Như đã nói ở trên, tác giả bài thơ đã dựa vào kinh “Thiên Thư” dưới thời vua Tống Chân Tông để chống giặc Tống, cho nên bài thơ trên chỉ có thể xuất hiện sau khi bộ kinh Thiên Thư hoàn thành. Như vậy, có hai giả thuyết:

1.        Nếu cho rằng bài thơ trên có từ thời vua Lê Đại Hành phá Tống thì kinh “Thiên Thư” phải được viết trước thời này, tức là trước năm 981.

2.        Nếu cho rằng bài thơ xuất hiện vào thời Lý Thường Kiệt đánh Tống, sau thời vua  Lê Đại Hành đánh Tống và kinh Thiên Thư có trước bài thơ, vậy thì kinh Thiên Thư chỉ có thể xuất hiện trong khoảng thời gian từ năm 982-1077. Giả thuyết thứ nhất bị loại vì trong Tống sử, Chân Tông bản kỷ, quyển VII, do Thuyết Thuyết chủ biên, có nói rõ việc vua Tống Chân Tông cho soạn Thiên Thư xong năm 1019 như đã nói trên. Vì vậy, Thiên Thư không thể viết trước năm 981.Giả thuyết thứ hai, Thiên Thư được viết xong năm 1019 sau khi vua Lê Đại Hành phá Tống năm 981 và trước khi Lý Thường Kiệt đánh Tống trên sông Như Nguyệt năm 1077. Như vậy, bài thơ trên chỉ có thể xuất hiện vào thời Lý Thường Kiệt đánh Tống bên sông Như Nguyệt đầu năm 1077 mà thôi.

Đinh Ngọc Thu

28-10-2008

Ghi chú:

1.        Bài thơ này có khoảng trên dưới 10 dị bản khác nhau. Bài viết này chỉ giới thiệu hai bản được nhiều người biết nhất.

2.        Lý Nhân Tông: (1066-1127) là con vua Lý Thánh Tông và bà Ỷ Lan, trị vì từ năm 1072-1027. Lý Nhân Tông là vua thứ tư nhà Lý: 1. Lý Thái Tổ – Lý Công Uẩn, 2. Lý Thái Tông – Lý Đức Chính, 3. Lý Thánh Tông – Lý Nhật Tôn, 4. Lý Nhân Tông – Lý Càn Đức.

3.        Trận Như Nguyệt: quân Tống đóng quân ở phía bắc sông Như Nguyệt từ ngày 23 tháng chạp năm Bính Thìn (1076) và bắt đầu rút về nước ngày 29 tháng giêng năm Đinh Tỵ (1077). Như vậy trận Như Nguyệt xảy ra trong khoảng thời gian này.

4.        Trương Hống, Trương Hát: là hai anh em và là tướng của Triệu Việt Vương (Triệu Quang Phục) khi còn sống. Triệu Quang Phục là tướng của vua Lý Nam Đế (503- 548) và được vua trao nắm giữ binh quyền. Sau khi vua mất, Triệu Quang Phục xưng vương. Lý Phật Tử là người trong họ của vua Lý Nam Đế, đã dùng gian kế diệt Triệu Việt Vương. Sau đó Lý Phật Tử cho người chiêu dụ anh em Trương Hống, Trương Hát, nhưng hai ông là những trung thần, chỉ thờ một vua nên đã tự tử chết. Đến thời Ngô, Nam Tấn Vương – Ngô Xương Văn (trị vì 950-965) đã phong cho Trương Hống chức “Đại Dương giang đô hộ quốc thần vương” và Trương Hát làm “Tiểu Dương giang đô hộ quốc thần vương”.

5.        Lê Đại Hành: (941-1005) là vua đầu tiên thời Tiền Lê, nối tiếp nhà Đinh. Tên thật của ông là Lê Hoàn. Đại Hành không phải là thuỵ hiệu của ông, “đại hành” có nghĩa là “chuyến đi xa”, dùng để chỉ vị vua vừa băng hà. Thường thì sau khi vua mất người ta gọi là “Đại Hành hoàng đế”, rồi sau đó vị vua kế tiếp nối ngôi sẽ đặt thuỵ hiệu cho ông vua vừa mất. Nhưng con ông, Lê Long Đĩnh đã không đặt thuỵ hiệu cho vua cha, vì thế cho đến bây giờ mọi người vẫn gọi ông là vua Lê Đại Hành và xem Đại Hành là thuỵ hiệu của ông.

6.        Theo GS Trần Đại Sĩ luận bàn về hai chữ “Thiên Thư” trong “Nam Quốc Sơn Hà”.

7.        Tống Chân Tông: trị vì 997-1022, tên thật là Triệu Hằng, là vua thứ ba nhà Tống. Ông là con của vua Tống Thái Tông – Triệu Khuông Nghĩa và là cháu gọi vua Tống đầu tiên, Tống Thái Tổ – Triệu Khuông Dẫn, bằng bác. Tống Chân Tông là cha của vua Tống Nhân Tông – Triệu Trinh với bà Lý thần phi mà chúng ta biết trong vụ án “Bích Vân cung”: bà Lưu hoàng hậu vợ vua Tống Chân Tông đã hoán đổi thái tử Triệu Trinh (tức vua Tống Nhân Tông sau này), con của Tống Chân Tông với bà Lý thần phi, tức Lý thái phi sau này.

8.        Trần Nghiêu Tẩu: còn có tên khác là Trần Nghiêu Tá, được vua Tống Thái Tông ban chức Quảng Tây chuyển vận sứ năm 996.

9.        Lưu Thừa Khuê: còn có tên khác là Lưu Thừa Hoa.

10.        Trần Bành Niên: có sách ghi Trần Hằng Niên, người đã cùng với các tác giả khác biên soạn bộ “Đại Tống trùng tu Quảng vận”, ra đời năm 1008.

11.        Xem Tống sử, quyển VII, “Chân Tông Bản Kỷ” do Thuyết Thuyết biên soạn.

12.        Miếu Khổng Tử: còn gọi là Khổng Miếu hay Văn Miếu. Văn Miếu dùng để chỉ  Khổng Miếu ở Khúc Phụ và Phu Tử Miếu ở Nam Kinh. Khổng Miếu nằm ở thị xã Khúc Phụ,  tỉnh Sơn Đông, Trung quốc, là nơi thờ cúng Đức Khổng Tử vì Khúc Phụ là quê hương của ông.

13.        Núi Thái Sơn: là ngọn núi được xem là linh thiêng nhất trong năm ngọn núi (Ngũ  Đại Danh Sơn) thuộc nhóm núi Lão Giáo. Xin xem bài “Vì sao ví ‘công cha như núi Thái Sơn’”, cùng người viết: http://hungsuviet.us/vanhoa/ConchanhunuiThaiSon.html

14.        Câu chuyện thứ 19 trong “Lĩnh Nam Trích (Chích) Quái”:

http://vi.wikisource.org/wiki/L%C4%A9nh_Nam_ch%C3%ADch_qu%C3%A1i/Truy%E1%BB%87n_hai_v%E1%BB%8B_th%E1%BA%A7n_%E1%BB%9F_Long_Nh%C3%A3n,_Nh%C6%B0_Nguy%E1%BB%87t

15.        Đúng ra là Tống Thái Tông. Tống Thái Tổ trị vì từ năm 960-976. Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng đưa quân sang đánh nước ta tháng 2 năm 981 thì vua Tống lúc đó phải là Tống Thái Tông vì Thái Tông trị vì từ 976-997.

16.        Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng: là hai trong nhiều tướng nhà Tống kéo quân sang đánh nước ta năm đầu năm 981. Các tướng khác là: Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân, Hắc Thủ Tuấn, Trần Khâm Tộ, Thôi Lượng, Lưu Trừng, Giả Thực, Vương Soạn. Trong trận này Hầu Nhân Bảo bị giết tại trận, Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị bắt sống. Các tướng khác hay tin bỏ chạy về nước nhưng sau đó hầu hết đều bị vua Tống ra lệnh giết chết vì bại trận.

17.        Tống Thần Tông: tên là Triệu Húc, trị vì từ năm 1067-1085, Thần Tông là con của vua Tống Anh Tông – Triệu Thự. Tống Thần Tông là vua thứ 6 nhà Tống. Ông là cha của hai vua thứ 7 và 8 triều Tống là: Tống Triết Tông – Triệu Hú và Tống Huy Tông – Triệu Cát. Tống Huy Tông và con là Tống Khâm Tông – Triệu Hoàn là hai vua đã bị nhà Kim bắt giữ năm 1127, chấm dứt triều Bắc Tống sau 167 năm cai trị. Con của Tống Huy Tông là Triệu Cấu đã trốn về miền nam, lập nên triều Nam Tống và lên làm vua, tức Tống Cao Tông sau này.

18.        Quách Quỳ: dòng dõi Quách Quân Biện, người đã bị quân của Lê Hoàn bắt sống trong lần xâm lược nước ta năm 981. Quách Quỳ được cử làm Kinh lược chiêu thảo sứ, Nguyên soái, trong cuộc chiến chinh phạt Đại Việt.

19.        Triệu Tiết: phó tướng của Quách Quỳ trong cuộc chiến xâm lược Đại Việt.

Tài liệu tham khảo:

–        “Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn” do nhóm tác giả thuộc Hội

Sử học Hà Nội. Nhà xuất bản Hà Nội, tháng 1-2006.

–        Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, “Bản Kỷ Toàn Thư” quyển I: Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên,

Ngô Sĩ Liên soạn thảo năm 1272 – 1697, do Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam dịch (1985 –

1992).

–        Đại Việt Sử Lược, quyển I và II, tác giả: khuyết danh, 1377-1388.

–        Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục – chính biên, quyển I, và quyển III, Quốc

Sử Triều Nguyễn, biên soạn năm 1856-1881 và do Viện Sử Học dịch năm1957-1960.

–        “Lịch sử, sự thật và sử học”, báo Tổ Quốc, số 401 tháng 1-1988, GS Hà Văn Tấn.

–        “Nam Quốc Sơn Hà và Quốc Tộ – Hai kiệt tác văn chương chữ Hán ngang qua triều

đại Lê Hoàn”, PGS Bùi Duy Tân đăng trong Tạp chí Hán Nôm số 5, phát hành năm 2005.

–        “Nam Quốc Sơn Hà”, của GS Trần Đại Sĩ. Viện Pháp – Á Paris xuất bản, 1996.

–        “Pháp Thuận và bài thơ thần nước Nam sông núi”, của thiền sư Lê Mạnh Thát:

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=12626&rb=0302

–        “Tác giả bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta”, của Phúc Trung:

http://www.ahvinhnghiem.org/tuyenngondoclap.html

–        Tống Sử, phần “Chân Tông bản kỷ”, quyển VII, và “Thần Tông bản kỷ”, quyển XV,

do Thuyết Thuyết biên soạn xong năm 1345.

–        Việt Nam Sử Lược, phần IV. Trần Trọng Kim.

–        Việt Sử Tiêu Án, phần “nhà Lê” và “nhà Lý” của Ngô Thời Sĩ. 1775.

–        “Lĩnh Nam Trích Quái” trong Wikisource.

Đính kèm:

NAM QUỐC SƠN HÀ

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch nghĩa

Núi sông nước Nam thì vua Nam ở,

Cương giới đã ghi rành rành ở trên sách trời.

Cớ sao lũ giặc bạo ngược kia dám tới xâm phạm?

Chúng bay hãy chờ xem, thế nào cũng chuốc lấy bại vong.

Dịch thơ

Nước Nam Việt có vua Nam Việt,

Trên sách trời chia biệt rành rành.

Cớ sao giặc dám hoành hành?

Rồi đây bay sẽ tan tành cho coi.

Nguyễn Đổng Chi dịch

(Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam)

Núi sông Nam Việt vua Nam ở,

Vằng vặc sách trời chia xứ sở.

Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?

Chúng mày nhất định phải tan vỡ.

Lê Thước – Nam Trân dịch

Link: http://www.hungsuviet.us/lichsu/NgocThuNamQuocSonHa.html\

Đọc lại: “BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO” VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ XUNG QUANH BẢN DỊCH CỦA NGÔ LINH NGỌC VÀ MAI QUỐC LIÊN

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: