Xung quanh “phát minh” “máy phát điện chạy bằng nước” của TS Nguyễn Chánh Khê

nguyenthanhnam1210: Phải nói thẳng là tôi là kẻ ngoại đạo. Song cái phát minh này đúng là mới lạ, …..(đã cắt bỏ 1 đoạn ngày 15/3/2012). Cái tôi quan tâm nhất ở đây chính là sự minh bạch trong khoa học thôi.

Dưới đây là 1 số bài viết về phát minh “máy phát điện chạy bằng nước” của TS Nguyễn Chánh Khê

“Đây không phải là việc làm ra một máy phát điện chạy bằng nước” – Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu, viện Khoa học và công nghệ Việt Nam

Đó là kết luận viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu với tư cách chủ trì hội thảo khoa học về “Máy phát điện chạy bằng nước” của TS Nguyễn Chánh Khê, phó giám đốc trung tâm Nghiên cứu và triển khai (khu công nghệ cao TP.HCM) vừa được tổ chức ngày 9.3.2012.

Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu nhận xét: “Kết quả khoa học của công trình này là tìm ra phương pháp mới để tạo ra hydro từ nước (H2O), sau đó sử dụng hydro làm nhiên liệu để phát điện. Đây không phải là việc làm ra một máy phát điện chạy bằng nước. Tác giả đã tạo ra được một chất rắn, mà theo báo cáo là có cấu trúc nano. Năng lượng cần thiết để tách hydro từ nước là năng lượng có sẵn trong chất rắn có cấu trúc nano”.

Theo viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu, bí quyết công nghệ nằm ở khâu chế tạo chất rắn cấu trúc nano. Về phương diện khoa học, tuy chưa được biết chất rắn cấu trúc nano là chất gì, song vẫn có thể nói rằng “tìm ra được một chất mới phản ứng với nước tạo ra hydro trên một quy mô đáng kể là một kết quả khoa học lý thú đáng trân trọng”.

Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu đề xuất: trong khi chờ đợi cơ quan bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Mỹ và cục Sở hữu trí tuệ (bộ Khoa học và công nghệ) xem xét bản đăng ký của TS Nguyễn Chánh Khê, khu công nghệ cao TP.HCM hoặc sở Khoa học và công nghệ TP.HCM cần cấp kinh phí cho TS Nguyễn Chánh Khê tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện công nghệ và chế tạo ra một máy phát điện hoạt động theo phương pháp mới, đồng thời chạy thử máy phát điện liên tục để kiểm tra sự ổn định của sản phẩm và ước tính hiệu quả kinh tế với điều kiện vẫn giữ được bí mật công nghệ.

G.V

Link: http://sgtt.vn/Goc-nhin/161738/%E2%80%9CDay-khong-phai-la-viec-lam-ra-mot-may-phat-dien-chay-bang-nuoc%E2%80%9D.html

+ + + + +

Công bố phát minh phải đúng với bản chất khoa học – GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng

Xung quanh phát minh “máy phát điện chạy bằng nước” của TS Nguyễn Chánh Khê, giới khoa học cho rằng, chất tham gia vào nước (tạm gọi là chất A) không phải là chất xúc tác như công bố của TS Khê mà đó chỉ là chất khử!

Tại cuộc hội thảo mới đây, TS Khê cũng đã thừa nhận “chất A tham gia phản ứng với vai trò là chất khử”. Dù các nhà khoa học tham gia hội thảo đề nghị TS Khê trình bày cơ sở khoa học của chất A nhưng ông đã từ chối vì cho rằng đó là “bí mật công nghệ”!

Việc thừa nhận “chất khử” và từ chối công bố cơ sở khoa học chất A của TS Khê khiến giới khoa học tranh luận về giá trị phát minh trên cũng như tính minh bạch trong khoa học. Sài Gòn Tiếp Thị đã có cuộc trao đổi với GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng, chuyên gia nghiên cứu về vật lý hàng không không gian xung quanh chủ đề này.

Ông Hưng cho rằng có thể đâu đó trên thế giới, có những kết quả nghiên cứu mà vào thời điểm công bố, giới khoa học vẫn chưa đủ sức hiểu hoặc giải mã những giá trị đó. Tuy nhiên đã là nhà khoa học, nhà sáng chế, việc công bố những kết quả nghiên cứu, sáng chế, phát minh… phải đúng với bản chất khoa học.

Thưa giáo sư, có quy định nào bắt buộc nhà sáng chế phải công bố tính khoa học của sáng chế đó?

Chẳng có quy định nào bắt buộc cả, ít ra theo hiểu biết của tôi. Vấn đề là tinh thần khoa học và tính trung thực của tác giả, của nhà sáng chế, nhà khoa học ở mức độ nào. Mặt khác, sáng chế, nhất là cách trình bày trong công bố không thể vi phạm những nguyên lý căn bản của khoa học.

Trong phạm vi chế tạo máy, có hai nguyên lý cơ bản của nhiệt động học: nguyên lý thứ nhất còn gọi là nguyên lý bảo toàn năng lượng trong quá trình biến đổi và nguyên lý thứ hai xác định là entropy của quá trình biến đổi khép kín chỉ có hai khả năng, hoặc là tăng lên, hoặc giữ nguyên.

Người sáng chế không bắt buộc phải công bố tác phẩm của mình, nhưng khi công bố phải nắm vững nội hàm khoa học, nhất là phải hoàn toàn trung thực về nội dung công bố. Cũng có trường hợp người sáng chế không đủ trình độ khoa học để giải trình. Song sau khi đã có bằng sáng chế, bản quyền được xác nhận, các nhà khoa học, chuyên gia sẽ vào cuộc giải thích khi nhận được những dữ kiện trung thực đến từ thí nghiệm.

Theo giáo sư, nhà sáng chế có thể từ chối công bố công nghệ nhưng phải công bố tính khoa học. Vậy giáo sư có cho rằng, khi công bố tính khoa học sẽ làm lộ công nghệ của nhà sáng chế đó?

Nhà sáng chế (và cơ quan tài trợ nhà sáng chế) có toàn quyền về thành quả công nghệ, thông thường chỉ công bố sau khi đảm bảo bản quyền, có bằng sáng chế. Nếu công bố trước khi đăng ký bản quyền, nhà khoa học có thể chỉ công bố những gì cần thiết có tính khoa học. Nói rõ hơn là nhà sáng chế có thể không cần thiết đưa ra những dữ kiện công nghệ như: thành phần hoá chất, vật liệu sử dụng, quy trình chế tạo… mà chỉ đưa ra những gì giải thích cho giới khoa học hiểu, và đánh giá được giá trị của công nghệ. Thông thường, những thông tin này không đủ để ai đó có thể chiếm lĩnh công nghệ nhưng đủ để thuyết phục giới khoa học cũng như các nhà tài trợ. Đây là nghệ thuật cần thiết khi công bố những nghiên cứu khoa học có công nghệ đi kèm.

Bản thân tôi đã từng công bố trên các phương tiện truyền thông quốc tế những thành quả nghiên cứu của mình có hợp đồng với các công ty công nghệ mà việc bảo vệ công nghệ là điều kiện đã được ký kết. Những công bố này chưa bao giờ để lộ bí quyết công nghệ nhưng đủ giá trị khoa học để thuyết phục giới khoa học về tính tiên phong của những thành quả nghiên cứu đó. Việc này là rất cần thiết trong môi trường cạnh tranh cả về khoa học lẫn công nghệ trên thế giới hiện nay.

Tính minh bạch trong khoa học được hiểu như thế nào, thưa giáo sư?

Nếu không có tính minh bạch thì không thể có khoa học. Bởi vậy, chỉ trong môi trường minh bạch và trung thực, khoa học mới phát triển và đạt được vai trò trọng yếu – động cơ của sự tiến bộ của xã hội loài người. Bất kỳ ở đâu trên thế giới, dư luận cũng có thể tham khảo được các công bố khoa học và trước khi công bố công trình phải được giới chuyên môn thẩm định. Như vậy chẳng những sự minh bạch trong nội dung công bố là cần thiết mà quy trình, công đoạn công bố nội dung ấy cũng phải minh bạch, rạch ròi. Ta đang sống trong thời kỳ mà nền văn minh đã trở thành phổ quát.

Gia Vinh (thực hiện)

Nhà khoa học cần tôn trọng những yếu tố nào để giữ được tư cách khoa học và bản thân trước đồng nghiệp, dư luận?

Như tôi đã nói, yếu tố quan trọng nhất của một nhà khoa học là tính trung thực. Có thể nhà khoa học không nói hết được những gì đã làm nhưng không được nói dối hoặc đánh tráo sự kiện để người nghe hay đọc hiểu lầm. Nhà khoa học phải tôn trọng đồng nghiệp và công luận. Nhà khoa học phải trung thực nhắc đến người đi trước, khai phá đường đi cho công trình của mình, phải thành thật giải bày cùng đồng nghiệp khi có phản biện. Nhà khoa học cũng phải cẩn thận trong công bố, không háo danh hoặc khai thác tính giật gân của thành quả nghiên cứu khoa học để gây hoang mang trong dư luận

Link: http://sgtt.vn/Ban-doc/161737/Cong-bo-pha%CC%81t-minh-pha%CC%89i-du%CC%81ng-vo%CC%81i-ba%CC%89n-cha%CC%81t-khoa-ho%CC%A3c.html

+ + + + +

Văn hoá khoa học qua vụ máy phát điện chạy bằng nước– Nguyễn Văn Tuấn

Sáng nay, ngồi nhăm nhi li cà phê trong một quán gia đình ở Đà Nẵng, và đọc được bản tin này, tôi phải chạy về khách sạn ghi vài dòng gọi là nhật kí trong một chuyến công tác xa. Tôi chú ý (hay nói đúng hơn là “quan tâm”) đến câu nói “Tôi đã có hai bài báo trên một tạp chí khoa học của Mỹ về pin nhiên liệu (quy trình thứ hai của máy phát điện chạy bằng nước – PV) nhưng tôi không tiết lộ tên của tạp chí đó đâu. Nếu cần thì tôi sẽ gởi cho”. Đây là vấn đề mà tôi gọi là văn hoá khoa học và đã bàn trong một bài trước đây.

Mấy tuần nay dư luận trong giới khoa học xôn xao về công trình máy phát điện chạy bằng nước. Trước khi giới báo chí chú ý đến công trình này, một diễn đàn trong giới khoa học (dành cho những người từng tham gia viết bài cho kỉ yếu Humboldt) đã râm ran bàn thảo về công trình này. Là người ngoại đạo, người viết bài này chỉ đọc và ghi nhận ý kiến của nhiều bạn trong chuyên ngành. Nói một cách khách quan, tất cả các chuyên gia trong diễn đàn đều nghi ngờ (nếu không muốn nói là không tin) tính khoa học của công trình. Nhưng người ta cũng kiên nhẫn chờ giải thích của tác giả công trình chứ không đưa ra những nhận xét trước công chúng. Tuy nhiên, đến khi tác giả giải thích thì đồng loạt các chuyên gia viết bài chỉ ra những chi tiết có thể nói là bất hợp lí và phi khoa học trong công trình. Đến khi có cuộc họp báo dưới sự chủ toạ của một vị nổi tiếng thì dư luận càng quan tâm vì những tuyên bố và kết luận không mang tính khoa học chút nào cả. Riêng người viết bài này cảm thấy sốc khi đọc được phát biểu của tác giả cho rằng đã công bố hai bài báo khoa học nhưng không chịu tiết lộ tên tập san! Tôi thấy đây là một vấn đề về văn hoá khoa học mà tôi có dịp đề cập trong cuốn sách “Đi vào nghiên cứu khoa học” mới xuất bản vào tháng 12 qua (và sắp tái bản trong tuần này).

Một trong những nét chính của văn hoá khoa học là minh bạch. Nhà khoa học có nghĩa vụ phải công bố những kết quả nghiên cứu kèm theo những phương pháp và cách tiếp cận vấn đề. Diễn đàn để công bố thường là các tập san khoa học, nhưng trong vài trường hợp cá biệt, cũng có thể là các hội nghị khoa học. Không nói ra ở đây thì ai cũng biết rằng công bố thành quả nghiên cứu trên những tập san khoa học là một cách thức “trình làng” cho cộng đồng khoa học, để mọi người có thể thẩm định giá trị của công trình nghiên cứu. Nhà khoa học thường rất hăng hái “chào hàng” công trình của mình, chứ hiếm thấy ai lại dấu diếm kết quả nghiên cứu. Cố nhiên, cũng có trường hợp tác giả không chịu tiết lộ phương pháp (vì họ sẽ đăng kí bản quyền sáng chế) nhưng họ vẫn phải nói sơ qua về các chi tiết kĩ thuật quan trọng. Dấu diếm hay không chịu công bố chi tiết thí nghiệm là một điều rất ư phi khoa học.

Ý nghĩa của công bố nghiên cứu chẳng những là minh bạch mà còn là một yêu cầu của nghiên cứu khoa học. Một trong những yêu cầu của khoa học là tính tái thiết lập (repeatability). Một công trình nghiên cứu mà đồng nghiệp khác không thể lặp lại kết quả nghiên cứu trước thì không thể xem là khoa học được (mà là pseudoscience – khoa học dỏm). Khi tác giả công bố kết quả cùng với nhưng chi tiết về phương pháp là tác giả muốn đồng nghiệp trên thế giới lặp lại những kết quả đó bằng những phương pháp đó, nếu có điều kiện. Chỉ khi nào kết quả đó được tái lập nhiều lần và độc lập thì mới xem là tri thức khoa học được. Thái độ không công bố kết quả và phương pháp nghiên cứu phải nói là rất xa lạ trong khoa học, vì điều đó có khi phản ảnh sự thiếu tự tin của nhà khoa học, hay công trình đó có “vấn đề”.

Thật là ngở ngàng khi biết tác giả nói rằng đã công bố bài báo khoa học nhưng … không chịu tiết lộ tên tập san khoa học! Thoạt đầu, tôi cứ tưởng phóng viên viết đùa cho vui, nhưng hoá ra là một phát biểu đàng hoàng. Đã là tập san khoa học, và nếu là tập san nghiêm chỉnh, thì chắc chắn phải có trong danh mục của các thư mục như ISI hay tương tự. Nếu đã công bố thì tên tác giả chắc chắn phải xuất hiện trong thư mục. Vậy thì làm sao tác giả có thể thốt lên câu “nhưng tôi không tiết lộ tên của tạp chí đó đâu”! Chỉ có người chưa bao giờ công bố khoa học mới có thể nói như thế. Dĩ nhiên, không loại trừ khả năng tác giả có lẽ lở lời trong khi lúng túng vì bị phóng viên bao vây, nhưng nếu lở lời thì thiết tưởng một câu đính chính cũng cần thiết.

Những độc giả của tập san là người đánh giá khách quan nhất. Thật vậy, những tập san khoa học nghiêm chỉnh (để phân biệt với những tập san “bậy bạ”) thường là cơ quan ngôn luận của một đoàn thể khoa học, và đại đa số độc giả thường là những người trong chuyên ngành. Một số độc giả này là những chuyên gia có kinh nghiệm cao có thể trong lĩnh vực tác giả trình làng nghiên cứu của mình, và do đó, chính họ là những người đánh giá đáng tin cậy nhất và khách quan nhất. Những quan chức khoa học, cho dù với những phẩm hàm cao chót vót, nếu không phải là chuyên gia trong chuyên ngành thì không thể nào và không bao giờ là những người có trình độ thẩm định khách quan. Nhưng trớ trêu thay, ở nước ta lại có tình trạng những người không có chuyên môn trong lĩnh vực quan tâm, không có thành tích khoa học trong chuyên ngành, mà lại ngồi trong những hội đồng thẩm định công trình khoa học của người khác!

Hệ quả của tình trạng “ngồi nhầm chỗ” là có những phán xét có khi làm cho giới khoa học lắc đầu ngao ngán. Chẳng hạn như sau khi nghe báo cáo của tác giả công trình (cứ tạm cho là “công trình”) “máy phát điện chạy bằng… nước” trình bày [không đầy đủ], hội đồng đi đến kết luận rằng đây là công trình quan trọng có giá trị bạc tỉ, rồi đề nghị Nhà nước cung cấp kinh phí để nghiên cứu tiếp. Kết luận này “bay trước mặt” ý kiến của các chuyên gia trong chuyên ngành từng chỉ ra những mâu thuẫn và tính “unbelievability” trong công trình đó! Thật khó tưởng tượng có cơ quan nào có thể chi tiền cho một công trình nghiên cứu mà chưa hình thành đến một bài báo khoa học. Tiền từ mồ hôi nước mắt người dân, chứ đâu phải nước lả hay lá cây mà phung phí như thế!

Khoa học là phải minh bạch và mang tính tái thiết lập. Đó cũng là hai tiêu chuẩn của văn hoá khoa học. Khoa học thành công là nhờ vào tính minh bạch, kế thừa, và tính tái thiết lập. Một công trình nghiên cứu, cho dù là đẳng cấp Nobel, thì vẫn phải công bố để đồng nghiệp thẩm định. Thật ra, công trình càng quan trọng thì yêu cầu thẩm định càng cao. Từ lúc khoa học hiện đại hình thành cho đến nay, không có một nhà khoa học nào được trao giải thưởng như giải Nobel mà chưa bao giờ công bố nghiên cứu của mình. Văn hoá khoa học cũng chính là văn hoá công bố và minh bạch. Không thể làm khoa học nghiêm túc mà không có văn hoá khoa học.

Link: http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1459-van-hoa-khoa-hoc-qua-vu-may-phat-dien-chay-bang-nuoc-

Các bạn có thể tham khảo thêm các bài viết:

Chất khử hay chất xúc tác?

http://sgtt.vn/Thoi-su/161718/Ch%C3%A1t-kh%E1%BB%A7-hay-ch%C3%A1t-x%C3%BAc-t%C3%A1c.html

Làm khoa học phải minh bạch

http://sgtt.vn/Khoa-giao/161719/La%CC%80m-khoa-ho%CC%A3c-pha%CC%89i-minh-ba%CC%A3ch.html

+ + + + +

Update 15/3/2012

Máy phát điện chạy nước phát hiện ra tầm nhìn của “trí thức Việt Nam”

Lý Toét

Tóm tắt sự kiện: Ông Nguyễn Chánh Khê – ông mang học vị Tiến sĩ nhưng ở đây không đề cập tới học vị này với lý do sẽ trình bày ở phần sau của bài – trình bày sáng chế Máy phát điện chạy bằng nước và biểu diễn nó tại Khu công nghệ cao dưới sự chứng kiến hạn chế của một số nhà khoa học và quan chức.

Sau khi được thị phạm bởi các cộng sự của ông Khê, các nhà khoa học càng thêm phần nghi hoặc. GS Nguyễn Đăng Hưng, Tiến sĩ Đại học Nhẹ nhất thế giới (Liege) nước Bỉ, tuy dè dặt nói rằng đây không phải lãnh vực của ông, đã kết luận là Không có kết luận và ông chỉ chuyển lời phản biện của Tiến sĩ Giáp Văn Dương.

TS Giáp Văn Dương từ Singapore phản biện trên cơ sở hai ý: một là không thể có động cơ vĩnh cửu; hai là, không thể vi phạm nguyên lý 2 Nhiệt động học. Các vị khoa bảng ở Đại học Bách khoa TP HCM cũng cùng quan điểm với TS Dương.

GS Nguyễn Văn Tuấn từ Úc châu, người viết không thấy có bằng chứng là ông đã có mặt khi thí nghiệm Máy phát điện chạy bằng nước, cho rằng Công trình của ông Nguyễn Chánh Khê không đạt chuẩn văn hóa khoa học, cụ thể là không minh bạch và không lặp lại được.

Ý kiến của GS Nguyễn Văn Hiệu, chủ trì buổi thẩm định, lại bị coi là ba phải khi ông cho rằng Bí mật công nghệ cần phải được giữ kín và ông Ủng hộ việc tiếp tục cấp kinh phí để hoàn thiện công trình.

Trước hết, xin được phép phê bình các nhà khoa học Việt Nam đã không cập nhật kiến thức đã quá cũ. Tạo ra điện bằng nước là không phải là một phát minh mà là một sáng chế cũ rích nhưng chưa được sản xuất đại trà ở xứ Phù Tang. Cách nay 4 năm hãng Genepax của Nhật Bản đã trình làng chiếc xe hơi chạy bằng nước và nước này không đòi hỏi phẩm chất tinh khiết có nghĩa là nước gì cũng được.

Và khi đó cũng nổ ra những tranh cãi trên thế giới về nhiên liệu nước để cuối cùng người ta thống nhất: Không có động cơ nào sử dụng nhiên liệu duy nhất là nước. Thế là đã rõ: Các nhà khoa học Việt Nam không chịu đọc để đi vào vết xe đổ đó là Cố gắng để phát minh ra cái bánh xe.

Kỹ thuật xe hơi điện hiện nay gặp 2 trở ngại chính:

một là, giá thành pin nhiên liệu khá đắt nhưng có thể hạ nếu được chế tạo hàng loạt;

hai là, chế tạo bình chứa khí hydro sao cho vừa an toàn vừa đủ để chạy xa, sẽ cồng kềnh và tốn kém. Hãng Genepax và ông Nguyễn Chánh Khê đã giải quyết được bài toán này: chế tạo hydro từ nước bình thường. Vậy đề tài ông đang làm là sáng chế chứ không phải phát minh và ông có quyền giữ bí mật công nghệ.

Cũng giống như ông Cao Minh Quang, tuy có học vị Tiến sĩ nhưng ông lại làm công tác Thứ trưởng chứ không làm khoa học. Ông Nguyễn Chánh Khê ở đây có vai trò là một doanh nhân chứ không phải là nhà khoa học, nên việc bắt ông phải có chứng cứ khoa học là một việc làm lạc đề. Việc gắn học vị Tiến sĩ vào tên ông đã làm cho người ta hiểu lầm.

Cuối cùng, kết luận của GS Nguyễn Văn Hiệu là đúng với thực tiễn nhất, chứng tỏ ông không hổ danh là Đầu ngành của Khoa học Việt Nam.

Link: http://xacbacxangbang.blogspot.com/2012/03/may-phat-ien-chay-nuoc-phat-hien-ra-tam.html

+ + + + +

GS Nguyễn Đăng Hưng hoang mang với “phát điện bằng nước”

“Thú thật tôi có chút hoang mang với kết luận của GS Nguyễn Văn Hiệu”. GS Nguyễn Đăng Hưng phát biểu như vậy khi trả lời phỏng vấn của phóng viên VietNamNet xung quanh máy phát điện bằng nước do TS Nguyễn Chánh Khê trình bày ở cuộc hội thảo thẩm định do Ban quản lý Khu công nghệ cao TP.HCM tổ chức .

Phóng viên: Việc TS Nguyễn Chánh Khê công bố sáng chế máy phát điện chạy bằng nước tại một cuộc hội thảo do Ban quản lý Khu công nghệ cao TP.HCM trước khi có bằng sáng chế có bất thường gì về quy trình công bố khoa học không thưa giáo sư?

Quan điểm của ông về công trình này như thế nào? Theo ông, TS Nguyễn Chánh Khê có thể sản xuất điện ở quy mô lớn chứ không dừng lại ở trong phòng thí nghiệm

GSTS Nguyễn Đăng Hưng: Việc bất thường là TS Nguyễn Chánh Khê công bố với báo chí đại chúng trước khi có Hội đồng thẩm định của nhà tài trợ (ở đây là Ban quản lý Khu công nghệ cao TP.HCM) có ý kiến. Mà hội đồng này đã họp lại là để nghe tác giả thuyết trình sau khi dư luận trong và ngoài nước sửng sốt trước một “phát minh” có tính đột phá có thể làm đảo lộn những hiểu biết hiện nay của giới chuyên gia.

Tôi cũng tự hỏi không hiểu quy trình thành lập hội đồng thẩm định ra sao tại Việt Nam, các thành viên tham gia có độc lập với nhà tài trợ không, có quy chế gì cho việc thẩm định về tính khả thi của dự án trước khi quyết định tài trợ hay tiếp tục thêm vốn tài trợ ?

Về phần sau của câu hỏi, thú thật ngay lúc này công trình này làm tôi băn khoăn hơn là mừng rỡ. Nhất là từ khi TS Khê thú nhận trong ngày hội thảo là đã sử dụng một tạp chất có phản ứng với nước để tách H2 ra khỏi nước. Như vậy bảo rằng máy chạy bằng nước là không chính xác và tạp chất này chính là nhiên liệu của quy trình làm ra điện.

Theo những chuyên gia Việt kiều như TS Giáp văn Dương (Singapore), PGS Phạm Quang Tuấn (Sydney), TS Phạm Việt Hùng (Hàn Quốc) thì nhiên liệu này nếu là hỗn hợp than hoạt tính và NaBH4 thì sẽ rất đắt và việc sản xuất điện quy mô lớn là không khả thi vì giá thành đắt hơn cả các nguồn hiện có, ngay cả năng lượng sạch như năng lượng mặt trời, năng lượng gió. Đừng nói chi chất thải có thể là khá độc hại cho sức khoẻ…

Phóng viên: Thưa giáo sư, ở nước ngoài, quy trình công bố một phát minh diễn ra như thế nào?

GSTS Nguyễn Đăng Hưng: Ở các nước phát triển, để bảo toàn bản quyền, hành trình thông thường là trước khi có công bố đại chúng, tác giả phải đăng ký bản quyền sáng chế.

Sau đó, nếu cần (thật ra là rất cần) công bố khía cạnh khoa học của sáng chế (không cần phải công bố bí quyết công nghệ) trên báo chí khoa học có uy tín.

Các báo này tự sẽ có các chuyên gia thẩm định trước khi đồng ý cho đăng tải. Cũng nên biết là quyền tác giả sẽ được bảo toàn kể từ ngày tác giả đăng ký bản quyền chứ không cần phải là ngày có kết luận của cơ quan chức năng.

Sau hai giai đoạn đó, tác giả mới thoải mái công bố trước công luận qua các phương tiện truyền thông đại chúng.

Vì uy tín của cơ quan ngôn luận, vì tránh cho kẻ hám danh lợi dụng diễn đàn, tại các nước phát phát triển, để tránh những công bố giật gân không có thực chất, báo chí không bao giờ cho đăng tải các thành quả công nghệ trước khi có thông tin đã được thông qua ở hai bước đầu.

Như vậy ở đây, báo chí Việt Nam cũng chưa quen hay thông lệ Việt Nam chưa có cho quy trình hợp lý về việc đưa thông tin khoa học công nghệ có chất lượng với độ tin cậy cần thiết.

Cũng nên nói thêm là việc đăng ký bản quyền tại các nước phát triển là thường có lợi cho người sáng chế. Quy trình đăng ký sáng chế ở các nước có nền công nghệ cao rất chặt chẽ, luật bảo vệ quyền lợi của nhà phát minh rất nghiêm minh, nạn sao chép lạm dụng thường bị nghiêm trị xứng đáng. Khỏi nói ở các nước này có rất nhiều nhà đầu tư mạo hiểm sẵn sàng chịu chơi, bỏ tiền tài trợ giúp nhà sáng chế nhanh chóng đưa công nghệ vào sản xuất.

Mặt khác, những dự án quy mô dài hơi tương tự như dự án do TS Khê chủ trì phải được Hội đồng thẩm định khách quan và độc lập xem xét trước khi có quyết định cấp kinh phí. Chủ nhiệm dự án phải báo cáo có định kỳ kết quả nghiên cứu rồi sau đó nhà tài trợ mới giải ngân theo một chu trình đã định sẵn.

Phóng viên: Ông có nhận xét gì về đề nghị của GS Nguyễn Văn Hiệu là Sở KH-CN thành phố nên đầu tư cho TS Khê tiếp tục nghiên cứu?

Nếu như điều này xảy ra thì phải có một hội đồng khoa học đánh giá công trình này. Ở nước ta, có thể chọn ai tham gia vào hội đồng khoa học trong lĩnh vực này, có phải mời chuyên gia nước ngoài tham gia đánh giá không?

Nếu có một hội đồng đánh giá thì ông Khê sẽ phải trả lời câu hỏi về chất xúc tác bí ẩn ấy như thế nào để không bị lộ bí quyết công nghệ cũng như vẫn đảm bảo được vấn đề khoa học?

GSTS Nguyễn Đăng Hưng: Thú thật tôi có chút hoang mang với kết luận của GS Nguyễn Văn Hiệu, người chủ trì Hội đồng thẩm định. Có lẽ ông muốn khuyến khích ê kíp của TS Khê chăng?

Ông đã tỏ ra rất hào phóng. Ông đã nhanh chóng kêu gọi Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh hoặc Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh cấp kinh phí cho TS Nguyễn Chánh Khê tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện công nghệ. Tôi có cảm tưởng đây là kết luận của một nhà chính trị, một nhà ngoại giao hơn là một nhà giáo, một nhà khoa học.

Thật vậy, hôm ấy (9/3/2012) ai cũng thấy TS Khê đi lạc đề, bỏ thì giờ diễn giải về pin nhiên liệu, một đề tài đã được các nhà thức giả nắm rõ, không phải trọng điểm sáng chế của mình, rồi lúng túng quanh co trước những câu hỏi rất thông thường dễ hiểu của các nhà khoa học.

Là người có thâm niên trong nghiên cứu, TS Khê không thể không phân biệt cái gì là khoa học cần phải minh bạch, cái gì là công nghệ cần phải bảo mật, để rồi phải lẫn lộn giữa chất khử và chất xúc tác, rồi không để ý là mình đang vi phạm những nguyên lý cơ bản của động nhiệt học.

Rõ ràng buổi thuyết trình thiếu tính khoa học nghiêm túc, thiếu tôn trọng đối với cử tọa là các nhà khoa học. Chỉ ở những điểm này thôi cũng đủ để thẫm định là TS Khê phải làm lại từ đầu, phải tổ chức một buổi thẩm định khác, trên tinh thần khoa học minh bạch, trước khi nói đến việc tiếp tục tài trợ.

Đã từ lâu cung cách thẩm định của giới chức năng khoa học Việt Nam thiếu tính nghiêm túc, nặng phần trình diễn, thường là hời hợt nể nang cho qua… Tôi đã từng nhiều lần chứng kiến thực trạng này khi tham gia các buổi bảo vệ luận văn tiến sỹ, thạc sỹ tại Việt Nam, ngay tại những trường đại học uy tín nhất. Ngày nào còn tiếp tục như vậy là ngày ấy công nghệ khoa học đích thực khó bề thăng hoa, vàng thau sẽ lẫn lộn. Nước ta lại còn nghèo, ngân sách cho khoa học không cao.

Phóng viên: Sau khi đọc các bài báo trả lời phỏng vấn của ông trên các báo, các nhà khoa học ở nước ngoài đã gửi thư cho ông bình luận về sự kiện này, họ có ý kiến như thế nào về sự việc này?

GSTS Nguyễn Đăng Hưng: GSTS Đàm Thanh Sơn đang giảng dạy tại Hoa Kỳ đã đề cập đến vấn đề này và tôi rất đồng tình. Ông đề nghị: Tôi muốn đặt câu hỏi về cơ chế mà Ban Quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM dùng để đánh giá nghiên cứu của TS Nguyễn Chánh Khê và các nghiên cứu khác ở Khu công nghệ cao. Theo tôi không thể dựa vào ý kiến của một người để quyết định đầu tư cho một nghiên cứu. Trước khi quyết định nhất thiết phải xin ý kiến phản biện của các chuyên gia trong ngành (peer review), hoặc thông qua biểu quyết trong một hội đồng gồm những chuyên gia có uy tín”.

Tôi chỉ xin thêm: “Hội đồng phải gồm các chuyên gia có uy tín và tinh thần độc lập cao”.

Một cách cụ thể tôi cũng đồng tình với ý khiến của TS Lê Hoài Quốc, trưởng ban quản lý Khu công nghệ cao, yêu cầu TS Khê chế ra một máy tương tự nhưng quy mô hơn có thể sử dụng lâu bền (ít nhất 3 tháng) tại chính khu công nghệ cao để minh định một cách thiết thực giá trị của sáng chế.

Chỉ sau thời gian này, tính hữu hiệu của sáng chế được khẳng định, Hội đồng thẩm định mới nghe lại tác giả trình bày khía cạnh khoa học của sáng chế (với những đo đạc định lượng hóa chất và năng lượng cần thiết) để đi đến quyết định tăng cường hay ngưng tài trợ cho các bước sắp đến.

Dĩ nhiên là sau quy trình này, chúng ta sẽ có kết luận về tính khả thi của sáng chế. Nếu tính khả thi không có cũng có ích cho khoa học và công nghệ: Về khoa học, TS Khê đã phát minh một tạp chất mới có khả năng giải phóng hydrogen từ nước. Về mặt công nghệ, nghiên cứu của TS Khê sẽ giúp cho giới công nghệ trong tương lai tránh không đi vào một ngỏ cụt nguy hại cho ngân sách sáng chế quốc gia…

Còn về bí quyết công nghệ thì TS Khê có quyền gìn giữ cẩn mật ngay cả trước mặt hội đồng thẩm định quốc tế. Đây là nghệ thuật của nhà sáng chế: tranh thủ sự đồng tình bằng khoa học, nhưng nhất quyết bảo toàn bí mật công nghệ.  Nhà khoa học có kinh nghiệm trong việc thẩm định sẽ không bao giờ phàn nàn về sự việc này cả.

Nói chung các nhà khoa học không chấp nhận sự thiếu minh bạch trong việc giải thích công trình của TS Khê, ít ra qua những lời tuyên bố trên báo chí đại chúng. Họ bị sốc vì sự lập lờ giữa chất khử và chất xúc tác, vể tính giật gân của công bố trên báo đại chúng mà cơ sở thì không tỏ rõ.

Phóng viên: Nếu nguyên lý tạo ra điện năng của TS Khê là đúng và mới, cần phải đánh giá như thế nào để đảm bảo yếu tố về giá cả, ô nhiễm môi trường…Có lẽ từ trước đến nay, mọi phát minh trên thế giới lúc công bố bao giờ giá cũng rất cao, phải mất hàng chục năm mới có thể hạ giá thành, và thông thường, vẫn gây ảnh hưởng đến môi trường? Ông có nhận thấy như vậy?

GSTS Nguyễn Đăng Hưng: Các nhà khoa học Việt kiều gần gũi với chuyên ngành này hơn tôi như GS Phạm Quang Tuấn, TS Giáp Văn Dương, TS Phạm Việt Hùng, TS Trương Văn Tân cho rằng tạp chất X của TS Khê có thể là một chất là hỗn hợp của than hoạt tính có cấu trúc nano, và chất khử NaBH4, có khả năng kiềm hãm vận tốc của phản ứng hóa học:

NaBH4 + H2O –> NaBO2 + 4H2

Và hydrogen sẽ được giải phóng một cách có trật tự. Bản thân tạp chất này, nếu thực sự tạo được, thì sẽ là một cống hiến khoa học đáng kể của TS Khê. Còn tính khả thi công nghệ là một chuyện khác vì ở đây yếu tố tài chính và môi trường sẽ giữ vai trò quyết định. Tương lai sẽ cho ta biết giải đáp của bài toán kinh tế và xã hội.

Khoa học cần giải thích minh bạch và suy luận chặt chẽ, công nghệ cần sức kiên trì và trí tưởng tượng.

Dù thế nào tôi cũng chúc cho TS Nguyễn Chánh Khê gặt hái được thành quả xứng đáng với công sức đã bỏ ra từ bấy nhiêu năm qua.

Phóng viên: Cảm ơn giáo sư đã trả lời phỏng vấn.

Hương Giang (thực hiện)

Link: http://www.vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/64162/gs-nguyen-dang-hung-hoang-mang-voi–phat-dien-bang-nuoc-.html

+ + + + +

VIẾT THÊM VỀ MÁY PHÁT ĐIỆN CHẠY NƯỚC

Thật lòng tôi hoàn toàn không có ý dè bỉu khi viết rằng phát minh của TS Nguyễn Chánh khê là “chấn động địa cầu”, là “làm thay đổi thế giới”…như một vài người bạn đã chỉ trích tôi.
Bởi thực tế nếu TS Khê tìm ra được chất mới lạ gì đó không đắt tiền, có thể kích hoạt sự phân giải nước thành khí hydro với hiệu suất lớn mà không tiêu tốn năng lượng như TS đã biểu diễn thì đó là một phát minh vỹ đại làm thay đổi thế giới.

Khi hydro được sản xuất ra từ nước với số lượng vô hạn và gía thành rẻ thì thế giới không còn đau đầu với việc giành giựt nguồn nhiên liệu, không còn chiến tranh dầu hỏa, không cần đến nhà máy điện nguyên tử, không lo nguy cơ rối loạn địa tầng từ các hồ chứa nước thủy điện… và quan trọng là không còn lo về vấn đề khí thải đưa đến hiệu ứng nhà kính làm biến đổi khí hậu nữa.
Nhiều người đặt ra vấn đề giải Nobel Hóa học cho TS Khê, riêng tôi thấy không cần thiết. Ông Nobel chỉ phát minh ra chất nổ giết chết người mà tiền thu vào đã làm ra giải Nobel lưu danh đến tận bây giờ, thì với cái chất phân giải nước ra hydro cứu nhân loại ấy, TS Nguyễn Chánh Khê sẽ lập ra biết bao nhiêu giải lớn hơn…để hàng năm các nhà khoa học trên thế giới ngóng trông về VN chờ giải.
Do vậy từ trong thâm tâm, tôi rất trông mong và luôn cầu mong phát minh của TS Khê là sự thực.
Tuy nhiên khi tìm hiểu sâu vào sự việc, tôi không khỏi không có những boăn khoăn lo lắng.
Thứ nhất, TS Khê biết rằng cốt lõi của phát minh của mình là tìm ra chất phân tích nước thành hydro với hiệu suất cao chứ không phải là máy phát điện chạy bằng khí hydro. Cái máy phát điện ấy thực chất là pin năng lượng chạy bằng hydro đã xưa rồi, không phải là phát minh mới mẻ và cũng không do TS làm ra đầu tiên. Thế nhưng trong buổi hội thảo khoa học, TS lại đưa phần sinh ra điện và thắp sáng bóng đèn vào làm che mờ đi vấn đề cốt lõi. Việc nầy không khỏi làm tôi không liên tưởng đến các động tác phụ làm mà mắt khán giả của các diễn viên ảo thuật.( rất xin lỗi về sự liên tưởng nầy, nhưng không thể không nói ra)
Thứ hai về chất bí mật gây ra sự phân giải nước với hiệu suất cao (hydro bay ra đến mức sôi lên sùng sục) mà không tiêu tốn năng lượng. TS đã không nói rõ nó là chất xúc tác hay là chất khử. Nhưng dầu sao trên thực tế, qua chứng minh biểu diễn vừa rồi phải khẳng định rằng, TS đã thành công trong việc tìm ra chất ấy. Thế nhưng tại sao Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu lại đề nghị cấp thêm kinh phí để đầu tư nghiên cứu?
Tuy nhiên những boăn khoăn của tôi thì cũng xuất phát từ sự suy diễn.
Chân lý hiện đang nằm trong tay TS Khê. Mọi suy diễn, mọi nghi ngờ sẽ bị đánh tan tác một khi TS đưa chất ấy đi đăng ký bản quyền phát minh và được công nhận. Chỉ cần chất ấy thôi, không cần đến máy phát điện chạy nước làm gì cho lôi thôi. Mà TS nên làm nhanh chuyện này vì TS đã có chất ấy trong tay rồi.
Cầu chúc Tiến sĩ thành công.

Link: http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/03/viet-them-ve-may-phat-ien-chay-nuoc.html

+ + + + +

Update 16/3/2012

Máy phát điện chạy bằng nước của TS Khê không phải đề tài nghiên cứu khoa học

(chỉ có tác dụng thông báo, xin đọc thêm bài viết phía dưới của Giáp Văn Dương)

Ngày 16/3, Trung tâm nghiên cứu triển khai (R&D) Khu Công nghệ cao TP.HCM đã có kết luận về phát minh máy phát điện chạy bằng nước của TS Nguyễn Chánh Khê.

Kết luận nêu rõ, công trình máy phát điện bằng nước của TS Nguyễn Chánh Khê, Phó giám đốc của Trung tâm R&D đã tự công bố chưa phải là một đề tài nghiên cứu khoa học theo quy định của quản lý khoa học hiện nay. Cũng như về quy chế quản lý đề tài nghiên cứu khoa học, công nghệ, dự án sản xuất thử nghiệm của Trung tâm R&D.

Cụ thể, việc nghiên cứu này chưa qua trình tự sơ tuyển, xét duyệt, đưa vào kế hoạch, kinh phí chính thức. Đây chỉ là nghiên cứu có tính cá nhân, nhưng lại sử dụng trang thiết bị, cơ sở vật chất, thời gian làm việc của Trung tâm R&D. Phát minh của TS Khê hiện đang ở giai đoạn đăng ký.

Tuy nhiên về phía Trung tâm R&D, ông Lê Phan Hoàng Chiêu, giám đốc cho biết: Đơn vị luôn khuyến khích và tạo điều kiện để TS Khê đăng ký đề tài nghiên cứu khoa học tại Sở KH-CN TP.HCM.

Link: http://khoahoc.baodatviet.vn/Home/KHCN/kh24/May-phat-dien-nuoc-cua-TS-Khe-khong-phai-de-tai-nghien-cuu-khoa-hoc/20123/198299.datviet

+ + + + +

Khoa học không phải là ảo thuật – Giáp Văn Dương

“Phát minh” máy phát điện chạy bằng nước đã được đề nghị cấp kinh phí nghiên cứu tiếp để hoàn thiện, và phải giữ bí mật tuyệt đối, phải đăng ký bản quyền… mà không dựa trên bất cứ một bằng chứng khoa học và kinh tế – kỹ thuật nào.

Ảo thuật ngôn ngữ?

Câu chuyện về sáng chế “máy phát điện chạy nước”, được TS. Nguyễn Chánh Khê, công bố ngày 14/1/2012 tại Khu Công nghệ cao Tp.HPCM, đã thu hút sự quan tâm lớn của dư luận. Nguyên nhân không chỉ là ý nghĩa khoa học to lớn của nó, nếu được khẳng định là đúng, mà còn bởi những sắc thái ly kỳ, bí hiểm do chính chủ nhân của nó tạo ra.
Ngay cả sau khi Khu Công nghệ cao Tp.HCM tổ chức hội thảo để làm rõ sáng chế này vào ngày 9/3/2012 vừa qua thì điều này vẫn chưa kết thúc. Sự bí hiểm này được bao phủ không chỉ bởi tấm màn “bí mật công nghệ”, mà còn bởi ngôn ngữ mà tác giả sử dụng, như: phản ứng nội sinh; năng lượng nội sinh dồi dào, xúc tác nano, chất khử nano, chất xúc tác hay chất khử, gọi là gì cũng được… Thậm chí, kết luận của chủ tọa cuộc hội thảo cũng không giúp gì hơn khi gọi hóa chất này là “chất rắn có cấu trúc nano” mà không dựa trên bất cứ một bằng chứng thực nghiệm nào.

Điều mà giới chuyên môn qua tâm nhất là: Hóa chất mà TS. Nguyễn Chánh Khê sử dụng, được gọi là “Xúc tác 1” trong bản thuyết trình, có vai trò tách hydro ra khỏi nước để dùng chạy pin nhiên liệu, là gì thì vẫn chưa có lời giải đáp.

Có lẽ nào khoa học lại là một trò ảo thuật bí hiểm?

Đâu là nhiên liệu?

Mấu chốt của sáng chế này là hóa chất được sử dụng để tách hydro từ nước. Trong thuyết trình, TS. Nguyễn Chánh Khê cho biết, hóa chất này được chế tạo từ bột gạo, bột năng, bã café, trấu, bằng cách phân hủy nhiệt dưới sự có mặt của khí hydro. Dưới tác dụng của chất “xúc tác 1” này, nước sẽ thực hiện “phản ứng nội sinh” để tạo hydro. Khí hydro này sẽ được cho chạy qua pin nhiên liệu để tạo điện. Theo TS. Nguyễn Chánh Khê: “Quá trình này không cần dùng bất cứ năng lượng nào từ ngoài bởi công nghệ nano chứa năng lượng nội sinh rất dồi dào và nước được sử dụng làm chất phản ứng”.

Nếu “xúc tác 1” này chỉ đóng vai trò xúc tác thuần túy thì nước sẽ tự phân hủy thành hydro và oxy dưới sự có mặt của chất này mà không cần sử dụng bất cứ nguồn năng lượng nào từ bên ngoài. Điều này là không thể vì trái với Nguyên lý II của Nhiệt động học. Mặt khác, sản phẩm cuối cùng của hệ thống này là nước, nên nếu cho quay vòng khép kín thì tạo ra một thứ động cơ vĩnh cửu. Điều này cũng không thể do vi phạm Định luật Bảo toàn Năng lượng.

Do đó, trong “xúc tác 1” này chắc chắn còn hóa chất khác là chất khử, có khả năng phản ứng trực tiếp với nước để tạo khí hydro, như LiBH4, LiH, LiAlH4, AlH3, MgH2, CaH2, NaH, NaBH4, NaSi v.v. Điều này đã được Ts. Nguyễn Chánh Khê thừa nhận trong cuộc hội thảo ngày 9/3, sau khi “giằng co” qua lại với các nhà khoa học.

Tuy nhiên, chất khử này là gì thì không được nhắc đến trong thuyết trình của TS. Nguyễn Chánh Khê, vì đó là “bí mật công nghệ”.

Nhưng có một điều chắc chắn: chính chất khử này mới là nhiên liệu, vì nó bị tiêu tốn trong quá trình vận hành máy. Điều này cũng giống như với động cơ xăng, nhiên liệu phải là xăng, chứ không phải là không khí, dù không khí được dùng để đốt xăng.

Cũng cần lưu ý, trong một bài báo đăng ở kỷ yếu hội nghị “Nanotech Conference & Expo 2011, Boston, Mỹ”, TS. Nguyễn Chánh Khê đã mô tả việc thiết kế và sản xuất một thiết bị tương tự như “máy phát điện chạy nước” dùng cho hộ gia đình, trong đó nêu rõ việc tạo ra hydro nhờ một chất khử phản ứng với nước. Điều này cho thấy, Ts. Nguyễn Chánh Khê đã không trung thực với báo chí và giới khoa học trong nước khi giới thiệu về công trình của mình.

Truy tìm “chất xúc tác nano” bí ẩn

Bột năng, bột gạo, trấu, bã cafe là các hợp chất hữu cơ, nên khi phân hủy nhiệt sẽ thu được than hoạt tính (than xốp, có diện tích bề mặt riêng lớn) và có thể một phần nhỏ grapheme, ống carbon nano. Đây là các dạng thù hình khác nhau của carbon, đã được biết đến từ lâu. Tính chất của chúng đã được nghiên cứu tương đối kỹ càng. Theo đó, có thể khẳng định chắc chắn: chúng không thể phản ứng với nước để tạo hydro. Điều này là hẳn nhiên, vì nếu không, toàn bộ các mỏ than trên thế giới đã bị phân hủy hết từ lâu do phản ứng với nước trong suốt hàng triệu năm, các bà nội trợ cũng không cần phải kỳ cọ xoong chảo vì chỉ cần nhúng vào nước là chúng sẽ sáng choang do muội than tự phản ứng với nước. Việc các mỏ than vẫn tồn tại, và các bà vợ vẫn phải cọ rửa xoong chảo hàng ngày, là bằng chứng cho thấy than hoạt tính, graphene, ống carbon nano… không phản ứng với nước, ít nhất là ở điều kiện thường.

Tuy nhiên, trong thuyết trình của mình, TS. Nguyễn Chánh Khê chỉ nói đến graphene hoặc gọi chung chung là xúc tác nano mà không đề cập đến thành phần chính là than hoạt tính này, gây ra cảm giác huyền bí, nhất là khi nghiên cứu về graphene lại được giải Nobel năm 2010. Đi xa hơn, TS. Khê còn cho biết, ông có thể tạo ra 100g graphene trong khi các nhà khoa học được giải Nobel chỉ tạo ra được 1 mg chất này, tạo cảm giác công trình nghiên cứu của mình còn siêu việt hơn cả công trình đã được giải Nobel.

Như vậy, trong “xúc tác 1” phải có thêm một chất khử có khả năng phản ứng với nước để tạo hydro. Trong số những chất khử đã biết, NaBH4 – ở dạng bột, màu trắng – được sử dụng phổ biến trong việc tạo hydro từ nước vì rẻ tiền, an toàn, sản phẩm tạo ra ít độc hại. Tuy nhiên, chất này khi cho vào nước thì phản ứng với nước rất chậm. Để tăng tốc độ phản ứng, người ta phải dùng thêm xúc tác bạch kim (Pt). Điều này cũng phù hợp với mô tả của TS. Nguyễn Chánh Khê: Trước đây phản ứng xảy ra rất chậm, mất 12g thì đèn mới sáng, sau đó 3 giờ, nay có xúc tác, nên chỉ cần 5 giây.
Do đó, căn cứ vào những phân tích ở trên, có thể phán đoán “xúc tác 1” chính là hỗn hợp của than hoạt tính – sản phẩm của quá trình phân hủy nhiệt bột gạo, bột năng, bã cafe – với bột NaBH4 và xúc tác bạch kim (Pt). Vì than hoạt tính có màu đen, bột NaBH4 có màu trắng, nên khi trộn lại sẽ ra một thứ bột màu xám, phù hợp với thông tin trên báo chí.

Khi cho “xúc tác 1” vào nước, NaBH4 sẽ phản ứng với nước tạo hydro theo phản ứng:
NaBH4 + 2H2O → NaBO2 + 4 H2 , ∆H= -212 kJ/mol   (1)

Lượng nhiệt tạo ra sẽ làm cho nước trong bình nóng lên, phù hợp với mô tả hiện trường.
NaBH4 là một chất khử thông thường, được sử dụng phổ biến từ những năm 1940 để tạo hydro từ nước, chứ không phải xúc tác nano hay hóa chất gì bí hiểm.

Lý do để người ta sử dụng NaBH4 thay vì các chất khử khác là chúng không bắt cháy ở điều kiện thường; phản ứng với nước rất chậm nên việc tạo ra hydro có thể kiểm soát được thông qua xúc tác; khi phản ứng với nước không có phản ứng phụ và không tạo ra các khí độc hại, sản phẩm của phản ứng là NaBO2 có thể tái sử dụng để điều chế NaBH4().

Nhìn vào hình 2, thấy rằng: Trong số các chất khử đã nêu làm ví dụ ở trên thì LiBH4 có khả năng sinh ra nhiều hydro nhất (183,6 mol H2/kg LiBH4), sau đó là NaBH4 (105,8 mol H2/kg NaBH4). Nhưng các hợp chất có chứa Li thường đắt đỏ do khan hiếm và nhu cầu lớn cho công nghiệp sản xuất pin Li-ion. Trên thực tế, dùng NaBH4 được coi là phương pháp đơn giản nhất và rẻ nhất để tạo hydro ở quy mô nhỏ. Nhưng với quy mô lớn, giá thành vẫn không thể cạnh tranh được với các phương pháp công nghiệp khác.

Hình 2: Lượng Hydro sinh ra từ 1kg các chất khử khác nhau khi cho phản ứng
với nước (với chất khí, ở điều kiện thường, 1 mol = 22,4 lít)

Giá điện sẽ bao nhiêu?

Theo báo giá của các công ty hóa chất Trung Quốc, nơi thường có mức giá thấp nhất so với các khu vực khác trên thế giới, giá của các hóa chất công nghiệp này như sau: Với mức mua tối thiểu 20 tấn, giá của LiBH4 loại 96% là 300-350 USD/kg(); với mức mua tối thiểu 50kg, giá của NaBH4 loại 98.5% là 20-30 USD/kg(); với mức mua tối thiểu 20kg, LiAlH4 loại 96%, có giá 165-195 USD/kg();với mức mua tối thiểu 25kg, NaH loại 60-65%, có giá 4-5 USD/kg ()…

Rõ ràng NaBH4 tỏ ra chiếm ưu thế vì giá thấp và hàm lượng hydro tương đối cao, 10.6% khối lượng. NaH tuy có giá rẻ hơn nhưng hàm lượng hydro chỉ chiếm 4,1% khối lượng. Đặc biệt, sản phẩm của phản ứng của NaBH4 với nước là NaBO2 ít độc hại hơn so với sản phẩm phản ứng của các chất khử khác.

Do đó, để ước lượng giá điện sản xuất theo phương pháp sử dụng chất khử làm nhiên liệu, NaBH4 sẽ được dùng như một ví dụ để tính toán.

Khi phản ứng với nước theo phản ứng (1), 1 mol NaBH4 sẽ tạo ra 4 mol H2. Như vậy, 1kg NaBH4, tương ứng với 26,45 mol, sẽ tạo ra 105,8 mol H2.

Khí hydro sinh ra cho chạy qua pin nhiên liệu sẽ có phản ứng:

2H2+O2 → 2H2O, ∆H= -286 kJ/mol   (2)

Như vậy đốt cháy 1 mol H2 sẽ tỏa ra một nhiệt lượng là 286 kJ, nên số khí H2 được tạo ra từ 1kg NaBH4 sẽ cung cấp một nhiệt lượng là 30258 kJ, tức 8.4 kWh. Giả sử hiệu suất của pin nhiên liệu là 50%, ở mức trung bình trên thế giới, thì điện năng sản xuất được từ 1kg NaBH4 là 4,2kWh.

Với các chất khử khác, lượng điện tạo ra khi tiêu tốn một kilogam chất khử cũng được tính tương tự, hình 3. Giá thành của 1kWh điện theo báo giá trung bình của một số chất khử nêu trên được trình bày ở hình 4.

Hình 3: Lượng điện tạo ra từ 1 kilogam chất khử với giả thiết hiệu suất pin
nhiên liệu là 50% (Hiệu suất trung bình hiện thời là 40-60%)
Hình 4: Giá điện được sản xuất từ một số chất khử theo báo giá hiện thời,
khi bỏ qua mọi chi phí khác, như: chi phí vận chuyển, than hoạt tính,
xúc tác, bộ phận pin nhiên liệu, nhân công…

Như vậy, nếu chỉ tính giá NaBH4 thuần túy mà bỏ qua mọi chi phí khác thì điện sản xuất ra sẽ có giá 6USD/kWh. Nếu tính thêm giá của than hoạt tính, xúc tác Pt, bộ phận pin nhiên liệu, nhân công, phí vận chuyển, xử lý chất thải… thì giá thành này còn cao hơn nữa. Giả thiết phần phụ trội này là 15% so với giá phần nhiên liệu chính là NaBH4 thì giá thành cuối cùng sẽ lên đến 7USD/kWh. Mức giá này đắt gấp khoảng 100 lần so với giá điện thương phẩm hiện thời ở Việt Nam.

Trong trường hợp chất khử được sử dụng không phải là là NaBH4 mà là một chất khác, như LiBH4, LiH, LiAlH4, AlH3, MgH2, CaH2, NaH, NaSi v.v thì giá thành cũng không hy vọng sẽ rẻ hơn. Lý do: Tất cả các chất như vậy đều không tồn tại trong tự nhiên (tức tồn tại trong các mỏ khoáng) để khai thác, vì chúng là các hợp chất không bền và nếu được tạo ra trong tự nhiên, chúng đã phản ứng với nước mưa, nước ngầm và do đó, sẽ bị phân hủy hết.

Cách duy nhất để có được những chất này là phải tổng hợp nhân tạo. Mà quá trình này bao giờ cũng tiêu tốn năng lượng nhiều hơn rất nhiều phần năng lượng do nó tạo ra, nên không bao giờ hiệu quả trị kinh tế khi sử dụng chúng làm chất phản ứng tạo hydro để từ đó tạo ra điện. Đó chính là nguyên nhân vì sao sử dụng các chất khử để sinh hydro từ nước, rồi từ đó tạo điện, lại có giá thành đắt hơn các phương pháp khác hàng chục lần, bảng 1.

Để cạnh tranh với giá điện được sản xuất bởi các công nghệ đã biết thì giá các chất khử này phải giảm khoảng 100 lần. Với NaBH4, mức giá khi đó sẽ là 0.2USD/kg. Một hóa chất phải tổng hợp nhân tạo tốn nhiều năng lượng, có mức giá như vậy là điều không tưởng.

Bảng1: So sánh giá điện sản xuất theo các công nghệ khác nhau
 

Công nghệ Giá (2005-2010) Giá (2020+)
Điện gió (trên bờ)
$0.04-0.07
$≤0.04
Điện gió (xa bờ) $0.1-0.17
$0.08-0.13
Điện sóng $≥0.11
$0.04
Điện địa nhiệt
$0.04-0.07
$0.04-0.07
Thủy điện v0.04      $0.04
Hội tụ ánh sáng bằng gương $0.11-0.15
$0.08
Điện mặt trời $>0.2
$0.10
Điện thủy triều $>0.11
$0.05-0.07
Điện truyền thống (từ than, dầu mỏ) sản xuất ở Mỹ $0.07
(chi phí xã hội: $0.12)
$0.08 (social cost: 0.14)
(chi phí xã hội: $0.14)    

Chất thải ra môi trường

Ngoài giá thành quá đắt như trên, việc sử dụng các chất khử này để sinh ra hydro rồi từ đó sản xuất điện còn thải ra môi trường một lượng chất thải rất lớn cần phải xử lý.
Theo phản ứng (1), cứ mỗi kilogram NaBH4 phản ứng với nước sẽ tạo ra 1,74kg chất thải NaBO2. Giả sử NaBH4 được trộn với than hoạt tính theo tỷ lệ 1:1 về khối lượng, thì phần chất thải này là 2,74kg. Nói cách khác, mỗi kWh điện được tạo ra thì sẽ phải thải ra khoảng 0.65kg chất thải.

Giả sử một hộ gia đình sử dụng một máy phát công suất 2kWh, dùng trung bình 12 giờ/ngày, thì một tháng sẽ hết 720kWh, do đó phải trả khoảng 4300-5000USD/tháng và thải ra môi trường khoảng 470 kg chất thải/tháng. Trong trường hợp chất khử được dùng nguyên chất thì lượng chất thải này cũng lên đến 300kg/tháng.

Nếu sử dụng các chất khử khác thì lượng chất thải ra môi thậm chí còn nhiều hơn. Hình 5 cho biết lượng chất thải mà một hộ gia đình tiêu thụ 720 kWh/tháng thải ra môi trường khi dùng các chất khử khác nhau để tạo điện, bỏ qua chất pha trộn cùng chất khử trong hỗn hợp phản ứng.

Lượng chất thải này nhiều hơn rất nhiều so với sản xuất điện từ các nhiên liệu khác. Nguyên nhân là vì trong các hợp chất hydride được dùng làm chất khử này, hàm lượng hydro rất thấp, thường dưới 20%, tính theo khối lượng, vì  bản thân nguyên tố hydro có khối lượng nguyên tử bé nhất là 1 đơn vị, trong khi các nguyên tố còn lại đề có khối lượng rất lớn. Do đó, phần còn lại hơn 80% của chất khử không thể dùng để tạo năng điện, sẽ được thải ra môi trường hoặc tái chế sử dụng.

Lượng chất thải này không có cách nào giảm được do sự bảo toàn khối lượng của hệ trước và sau phản ứng, do đó có khả năng gây ô nhiễm môi trường nặng nếu không được xử lý đúng cách.
 
Hình 5: Lượng chất thải một hộ gia đình tiêu thụ 720 kWh/tháng thải ra môi trường khi sản xuất điện từ các chất khử khác nhau, bỏ qua lượng chất pha trộn cùng trong hỗn hợp phản ứng với nước

Thay lời kết

Những phân tích ở trên cho thấy việc tạo điện theo phương pháp này không thể cạnh tranh với các công nghệ khác như điện mặt trời, điện gió, điện thủy triều v.v.

Giả sử 5% dân số Việt Nam, tức một triệu hộ gia đình, sử dụng máy phát điện dùng chất khử NaBH4 này thì theo tính toán ở trên, một năm sẽ phải chi trả khoảng 50-60 tỉ USD, bằng nửa tổng GDP của cả nước, và thải ra môi trường khoảng 4-5 triệu tấn chất thải cần xử lý hoặc tái chế.

Đây quả là những con số kinh hoàng. Tuy nhiên, tại hội thảo ngày 9/3/2012 tại khu công nghệ cao, GS. VS Nguyễn Văn Hiệu, chủ tọa của hội thảo đã kiến nghị “cần cấp kinh phí cho Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện công nghệ và chế tạo ra một máy phát điện hoạt động theo phương pháp mới”, với lý do công trình này có ý nghĩa thực tiễn.

Ngoài ra, kết luận này cũng thiếu tính khoa học khi không căn cứ trên bất cứ dữ liệu có thể kiểm chứng nào. Cụ thể:

– Khi chưa biết hóa chất được sử dụng là gì, không có bất cứ một bằng chứng thực nghiệm nào, mà kết luận đó là một “chất rắn có cấu trúc nano” là thiếu cơ sở khoa học.

-Việc đề nghị cấp kinh phí để tiếp tục đề tài nghiên cứu vì “phát minh” có ý nghĩa thực tiễn, mà không dựa trên bất cứ một đánh giá kinh tế kỹ thuật nào là một sự cẩu thả vô trách nhiệm.

Phân tích bản chất khoa học đằng sau phát minh “máy phát điện chạy bằng nước”, thấy rằng: Điểm mấu chốt của nó là sử dụng một chất khử để tạo hydro chứ không phải dùng một xúc tác mới để phân hủy nước, như thừa nhận của chính tác giả trong buổi hội thảo.
Phát minh này, nếu hiểu theo tên gọi của nó và lời giới thiệu của tác giả, tức là “máy phát điện chạy bằng nước”, thì vi phạm Định luật Bảo toàn Năng lượng và Nguyên lý 2 của Nhiệt động học; còn nếu hiểu đúng theo bản chất của nó như sự chỉ ra của các nhà chuyên môn và được sự thừa nhận sau đó của chính tác giả, tức là sử dụng một chất khử để phản ứng với nước tạo hydro, thì là một sự thiếu trung thực.

Một “phát minh” như vậy lại được vị chủ tọa của hội thảo đề nghị cấp kinh phí nghiên cứu tiếp để hoàn thiện, và phải giữ bí mật tuyệt đối, phải đăng ký bản quyền… mà không dựa trên bất cứ một bằng chứng khoa học và kinh tế – kỹ thuật nào, là một điều khó lý giải.

Thiết nghĩ, kết luận trong việc thẩm định các đề tài khoa học và quyết định cấp kinh phí nghiên cứu phải được căn cứ trên các số liệu thực nghiệm, luận cứ khoa học, ý kiến của các chuyên gia, chứ không phải trên những báo cáo không bằng chứng và cảm hứng chủ quan của một vài người.

Cuối cùng, sự kiện “máy phát điện chạy bằng nước” đã hé lộ rất nhiều yếu kém trong quản lý và triển khai nghiên cứu khoa học, cần được mổ xẻ và làm rõ. Các khía cạnh liên quan khác, như Truyền thông khoa học, Văn hóa khoa học, Công bố khoa học… cũng cần được xem xét và thảo luận để rút ra những bài học cần thiết, nhằm hướng đến một môi trường khoa học lành mạnh và nghiêm chính.  Nguyễn Văn Hiệu

VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

Kết luận về báo cáo của Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê tại cuộc Hội thảo “Máy phát điện chạy bằng nước” do Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào buổi sáng ngày 9 tháng 3 năm 2012

Kết luận gồm hai phần:

– Bản chất khoa học của công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê;
Ý nghĩa thực tiễn của công trình này.

– Sau khi trình bày xong kết luận, tôi xin được phát biểu Kiến nghị riêng của mình.

Dưới đây là kết luận:

1. Về bản chất khoa học của công trình nghiên cứu

Kết quả khoa học chính của công trình này là tìm ra một phương pháp mới để tạo ra hydro từ nước (H2O), sau đó sử dụng hydro làm nhiên liệu để phát điện. Đây không phải là việc làm ra một máy phát điện chạy bằng nước.

Tác giả đã tạo ra được một chất rắn mà theo báo cáo là có cấu trúc nanô. Ta hãy gọi đó là một chất rắn cấu trúc nanô. Khi chất rắn cấu trúc nanô này phản ứng với nước thì sẽ xảy ra một phản ứng hóa học tạo ra hydro. Năng lượng cần thiết để tách hydro từ nước là năng lượng có sẵn trong chất rắn cấu trúc nanô. Không có sự vi phạm định luật bảo toàn năng lượng. Sau khi xảy ra phản ứng hóa học chất rắn cấu trúc nanô không còn nữa, mà sẽ xuất hiện các chất khác. Do đó tác giả mới phải “tái chế” lại chất rắn cấu trúc nanô gây ra phản ứng.

Bí quyết công nghệ nằm ở khâu chế tạo chất rắn cấu trúc nanô. Trước khi đăng ký xong quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ với cơ quan có thẩm quyền, phải giữ bí mật về chất rắn cấu trúc nanô.

Về phương diện khoa học, tuy chưa được biết chất rắn cấu trúc nanô là chất gì, song vẫn có thể nói rằng tìm ra được một chất mới phản ứng với nước tạo ra hydro trên một quy mô đáng kể là một kết quả khoa học lý thú đáng trân trọng.

2. Về ý nghĩa thực tiễn của công trình nghiên cứu

Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê cho biết phương pháp sản xuất điện năng của anh không gây ô nhiễm môi trường. Do đó ý nghĩa thực tiễn của công trình nghiên cứu phụ thuộc giá thành của điện năng sản xuất ra bằng phương pháp mới. Có hai khả năng.
Một là: giá thành điện năng được sản xuất theo phương pháp mới tương đương hoặc rẻ hơn giá thành điện năng đang sản xuất hiện nay. Trong trường hợp này công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê là một phát minh lớn về công nghệ, dẫn đến một sự phát triển mới của công nghệ năng lượng trên thế giới.

Hai là: giá thành điện năng được sản xuất theo phương pháp mới tuy còn cao song có thể chấp nhận được. Trong trường hợp này phương pháp mới của Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê có thể được áp dụng để sản xuất ra điện năng ở những vùng không có lưới điện quốc gia và do đó vẫn có ý nghĩa.

Sau khi trình bày kết luận, tôi xin đề xuất Kiến nghị sau đây:

Trong khi chờ đợi cơ quan bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Mỹ và Cục Sở hữu trí tuệ Bộ Khoa học và Công nghệ còn đang xem xét bản đăng ký của Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh hoặc Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh cần cấp kinh phí cho Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện công nghệ và chế tạo ra một máy phát điện hoạt động theo phương pháp mới, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh vận hành chạy thử máy phát điện một cách liên tục để kiểm tra sự ổn định của quá trình phát điện trong một thời gian dài và ước tính hiệu quả kinh tế, với điều kiện vẫn giữ được bí mật công nghệ.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 9 tháng 3 năm 2012

Người kết luận

Ký tên

Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu

Chủ tịch Hội đồng Khoa học ngành Khoa học vật liệu
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam     

Link: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=4987

+ + + + +

TRĂN TRỞ TỪ CHUYỆN “MÁY PHÁT ĐIỆN CHẠY BẰNG NƯỚC”

Bùi Văn Bồng

Hiện nay, các phương tiện thông tin đại chúng đang có nhiều thông tin, có cả sự tranh cãi nhiều về vụ sáng kiến Công trình máy phát điện chạy bằng nước của TS Nguyễn Chánh Khê, Phó Giám đốc của Trung tâm R&D. Qua đây, nhìn về phương diện này, ai cũng thấy những phát minh, sáng chế ở nước ta lâu nay còn ít. Các chính sách và quy trình nghien cứu, triển khai ứng dụng và sản xuất đại trà các phát minh sáng chế, cải tiến kỹ thuật vẫn ít được quan tâm, khuyến khích. Nghị quyết nào cũng nêu hay, coi khoa học kỹ thuật là then chốt, hội nghị, hội thảo, tọa đàm bàn tròn bàn dài triền miên, nhưng chính sách trọng dụng nhà khoa học, khuyến khích nhiệt huyết sáng tạo của giới trí thức thì còn nằm tận nơi đâu xa với. Đàng sau những ước mong, khát vọng đưa kỹ thuật vào sản xuất vẫn còn bị trói buộc bởi nhiều thủ tục nhiêu khê.

Nhiều năm qua. Có một thực tế là nông dân tự sáng chế ra máy làm cỏ, máy sục  bùn, máy tuốt lúa đẩy tay, máy bóc bẹ ngô, máy bóc lạc, bóc hạt điều, bánh xe quạt nước tự động, máy hút bùn siêu gon, nuôi kiến vàng trong vườn bưởi…thấy rất tiện lợi, nông dân mua giá rẻ, chấp nhận sử dụng. Như ba ông thợ cầu ở Châu Thành (An Giang) văn hóa chưa hết tiểu học, nhưng nghĩ ra cách làm cầu treo, bị ngành giao thông và các cơ quan quản lý khoa học chặn lối, bắt bẻ đủ đường. Tưởng sáng kiến của họ vứt xó. Nhưng được chính quyền địa phương tin, khuyến khích, nay họ đã xây dựng  được gần 300 cây cầu cho khắp vùng Nam bộ, bằng vật liệu tại địa phương. Không phải trải qua hoặc chạy đua trên “con đường thủ tục, thẩm định” nhiêu khê, họ đã thành công. Mà họ ít nghĩ đến lấy việc bác cầu để làm giàu. Nay họ đã có thương hiệu “Tam gia cầu treo”, được Chủ tịch nước đã mấy lần khen. Dân các nơi thì tấm tắc khen và mong đợi ba ông thợ cầu độc đáo này đến để đem “mưa móc” cho họ có cây cầu đi lại: “Nhờ họ thôi, chờ Nhà nước phê duyệt, rót kinh phí đầu tư thì biết bao giờ mới có cây cầu?”. Có những tiến sĩ, kỹ sư ngành cầu đường lâu năm, những cho đến nay dù nghiên cứu, đo, vẽ, xác định kết cấu vật liệu đủ kiểu vẫn chưa lý giải được nguyên lý cộng lực của loại cầu tự tạo này. Còn bản thiết kế các cây cầu hoàn toàn tin và giao quyền cho nhóm “Tam gia cầu treo”.
Các ông ngồi vẽ lấy với nhau, hiểu với nhau, còn nếu như bắt phải giải thích bằng khoa học khó khăn lắm. Thế mà trong thực tế cây cầu nào cũng vững chãi, bền, gia thành rẻ, rất thuận lợi cho xứ kênh rạch chằng chịt ở Nam bộ. Nếu như cứ theo đúng nguyên tắc, thủ tục, quy trình mà chặn sáng kiến này lại, thì làm gì có được gần 300 cây cầu ngon lành, mở mang giao thông vùng “ruộng sình kinh ngập” ở đồng bằng sông Cửu Long? Cho nên, sáng kiến từ cá nhân, nhưng nếu như được tập thể, nhà nước quan tâm đánh giá đúng, tạo điều kiện phối hợp, hỗ trợ thì sẽ áp dụng ra thực tế nhanh và sớm có hiệu quả. Ấy vậy mà nay vẫn không ít trường hợp khi đề nghị Nhà nước cho tổ chức áp dụng, chuyển giao công nghệ, sản xuất để đưa đại trà ra thị trường thì khó khăn, ách tắc về quy trình, thủ tục, kiểm chứng công nghệ, rồi đến nguồn vốn đầu tư cho nghiên cứu nâng cao, đầu tư cho sản xuất, trả thù lao cho người phát sáng kiến. Đủ thứ còn nhiều bắt bẻ vòng vèo các nẻo quanh co của lối làm khoa học kiểu cũ.

           Nay việc nghiên cứu máy phát điện chạy bằng nước của Ts Nguyễn Chánh Khê xem ra bước đầu có hiệu ứng với nguyên liệu chủ yếu tạo phản ứng hóa học sinh công bằng công nghệ nano (nano technology). Được biết, công nghệ này tổng hợp và sử dụng các loại vật liệu, thiết bị hay kể cả các hệ thống có kích thước cỡ nano (1 phần tỷ mét). Nó có ứng dụng rất lớn trong cuộc sống và là một công nghệ triển vọng ngay tại thời điểm hiện tại lẫn tương lai. Thử tưởng tượng có những thiết bị nhỏ cỡ nano có thể đi vào trong con người, tìm ra các bộ phận bị “ốm” và tuyệt hơn là góp phần làm bộ phận đó “khỏe” trở lại. Công nghệ này cũng được đánh giá là sạch (ít gây ô nhiễm) và hiệu quả hơn các công nghệ hiện tại.
Nếu như giá thành rẻ, tiện sử dụng, có độ bền cần thiết thì trước hết người dân và bộ đội vùng biên giới, hải đảo sẽ rất thuận dùng. Thực tế có những ý định sáng kiến, nhưng bí tiền, lại không tự sắm được các thiết bị phục vụ nghiên cứu, có những nhà khoa học, những kỹ sư chuyên ngành rất ngại nghĩ đến các sáng kiến. Bên cạnh đó còn nhiều thủ tục phiền hà, bất lợi từ các quy định khắt khe, cùng kìm hãm sáng kiến. Điều này cần xem lại về các chính sách đối với nhà khoa học, chính sách khuyến công, bảo hộ sáng kiến cải tiến kỹ thuật công nghệ. Khi nhà khoa học vì ham mê, vì động cơ ích nước lợi nhà mà bỏ vốn ra, có khi phải tự đầu tư vốn lớn, khi sáng kiến có hiệu quả thực sự đi vào sản xuất, đời sống, Nhà nước có bù vốn đã đầu tư cho họ và thưởng xứng đáng không?
Hiện nay, ứng sử dụng sáng kiến này của TS Nguyễn Chánh Khê  chưa qua trình tự sơ tuyển, xét duyệt, chưa được đưa vào kế hoạch, kinh phí chính thức, cho nên thiếu quy trình thủ tục, không hợp lệ. Có ý kiến cho rằng: Đây chỉ là nghiên cứu của một cá nhân có sử dụng trang thiết bị, cơ sở vật chất, thời gian làm việc của Trung tâm R&D. Tất nhiên, nghiên cứu thường xuất phát từ một cá nhân. Ông Newton, Galilée, Edison, hay như James Watt (1736-1819), nhà phát minh người Scotland,  người đã có nhiều cải tiến về máy hơi nước và các nhà khoa học có những phát minh từ thế kỷ 17, 18 khi đó cũng chưa có một tập thể, một hội đồng nào. Thậm chí nhà nghiên cứu còn bị các thế lực di đoan truy bức. Tự họ phải nghiên cứu, thế mà để cho đời nhiều sáng kiến có giá trị vĩnh hằng. Và khi bắt tay vào các nghiên cứu hầu như họ cũng không phải lo xin phép ai cả. Sáng kiến, ý định nghiên cứu phát minh khoa học của các cá nhân trước hết là do tự mỗi cá nhân nghĩ ra, và cần được khuyến khích. Các Hội đồng này kia của ta có khi vẫn còn lợi bất cập hại. Nó thuận cho quản lý Nhà nước về khoa học, kỹ thuật, đội ngũ, nhưng ngược lại đã sinh ra những hệ lụy giữ chân nhau, có cả tranh công, thậm chí có người còn muốn phải được “dây máu ăn phần”, phải có “chia chác”, chưa nói đến cả sự ghen tài với nhau, kìm hãm nhau: “Nó nổi tiếng, không khéo mình mất ghế!”.
Rồi có khi còn thiếu trách nhiệm, ít nhiêt tình ủng hộ, xổ toẹt cho nhanh, tốt nhất là cứ dừng lại nghiên cứu thêm cái đã. Đó cũng là những mặt tồn tại ngược dòng phát triển theo quy luật tự nhiên và xã hội,  cần xem xét…”. Phát minh của TS Khê, theo phát biểu của chính tác giả, hiện đang ở giai đoạn đăng ký, chưa được cấp chứng nhận theo quy định”. Tất nhiên đã gọi là phát minh thì phải của chính tác giả rồi. Có nhà khoa học đã tâm sự với tôi: “Đang nghĩ ra điều này, ý tưởng nọ, nhưng chạy để được cấp giấy chứng nhận thấy nhiều rắc rối, trần thân. Thôi, tốt nhất là nghỉ cho khỏe!”. Không có bài thơ, hoặc tác phẩm văn hoc, bản nhạc nào lại do một nhóm người ngồi lại cùng sáng tác với nhau.
Còn nếu như có ý kiến như kết luận là công trình máy phát điện chạy bằng nước của TS Nguyễn Chánh Khê chưa phải là một đề tài nghiên cứu khoa học theo quy định quản lý khoa học hiện nay và quy chế về quản lý đề tài nghiên cứu khoa học, công nghệ, dự án sản xuất thử nghiệm của Trung tâm R&D đã ban hành. Nói thế chưa chặt chẽ, thực sự phải ghi nhận đây cũng là một đề tài khoa học có nét mới mà chưa ai nghiên cứu, và cũng ít người nay chú tâm mạnh dạn nghiên cứu, sáng chế. Có bằng khoa học, nhưng lại ít làm khoa học, dựa vào lương biên chế, dựa việc, nghề khác dể sống. Về quy trình thủ tục hành chính còn này, nọ, nhiều cái tranh luận, đưa ra soi xét. Người ta vẫn xoáy vào cái chi tiết về thủ tục trình báo khi phát kiến cái gì đó. Đi sâu câu nệ vào những cái gọi là thủ tục thì không nên. Như trên đã nói: Thủ tục mà đưa ra nhiêu khê, rềnh rang, lắm chữ ký, nhiều con dấu, qua cửa này cửa kia vẫn chưa xong. Đó là cung cách nặng về quản lý hành chính chuyên ngành, có khi lại bóp nghẹt, ngăn chặn sáng kiến. Sự ganh ghét, kìm chân nhau, muốn hơn thua, có sự đố kỵ, hẹp hòi là không văn minh, thể hiện kém văn hóa trong xã hội phát triển nền kinh tế tri thức.
Tuy nhiên, tôi cũng tán thành ý kiến của ông Lê Phan Hoàng Chiêu, giám đốc cho biết: Đơn vị luôn khuyến khích và tạo điều kiện để TS Khê đăng ký đề tài nghiên cứu khoa học tại Sở KH-CN TP.HCM. Thiết nghĩ phát minh của TS Khê cần có thêm thời gian để kiểm nghiệm, định lượng và chuẩn xác hóa công nghệ, không thể nôn nóng đòi hỏi ngày một ngày hai phải đạt đến một tiêu chuẩn về công năng và hiệu quả kinh tế mong muốn.
Một điều nữa, nước ta là nơi nắng quanh năm, gió bốn mùa, hình đồ đất nước thì mỏng. Như ở miền trung thấy gió biển thổi lồng lộng lên tận dãy Trường Sơn. Ta đã tận dụng điện gió, năng lượng mặt trời, thứ trời cho mà nhiều nước mơ cũng không được? Nhưng việc đầu tư ngay từ khâu phát minh sáng kiến đến sản xuất ra điện tại chỗ này đã được thực sự quan tâm chưa? Điện của ta hiện nay, do đầu tư lớn của Nhà nước cùng giăng lưới tới hơn 80% địa bàn dân cư rồi, kể cả miền núi, hải đảo.
Việc quản lý EVN để phát huy hiệu quả phục vụ nhân dân, bù tiền vốn Nhà nước đã đầu tư quá tốn kém như thế nào? Sao lại để cho nhóm lợi ích lợi dụng hệ thống điện đã được Nhà nước đầu tư lớn để thủ tiền cho cá nhân, tùy tiện lương, thưởng, lai liên tục nâng giá điện, bắt người dân phải è cổ ra đóng tiền với giá ngày càng gia tăng? Vậy vai trò quản lý và chính sách của Nhà nước nhằm có lợi cho quốc kế dân sinh ở đâu? Người nghèo phải nhăn mặt vét túi đóng tiền điện mỗi ngày tăng vọt đến mức chóng mặt để rồi Nhà nước và dân đều bị thiệt, để mặc sức cho đại gia, đại ca, quan chức ăn thâm thủng quá lớn. Phát hiện ra hàng trăm nghìn tỉ đồng bị bay vèo mà cùng lắm chỉ là khiển trách, cho điều chuyển công tác, “hạ cánh an toàn”. Trong khi đó, Nhà nước có khi còn phải vay ngoại tệ, đang găm nợ nước ngoài để đầu tư lớn, nay lại do EVN được độc quyền quản lý, sử dụng, điều tiết, thu lợi, tự tung tự tác chia chác nhau hưởng hết tiền, lại còn kêu lỗ, vậy Chính phủ tính sao đây? Tiền thuế thu của dân cả đấy! Cái bài lấy giá thê giới về xăng, điện, than để áp vào với đồng tiền Việt (đang có giá khi du khách đem USD sang tiêu dùng ở thị trường VN) giữa cơn khủng hoảng tài chính toàn cầu này là ‘tát nước theo mưa” để vơ thêm lợi nhuận, làm mất giá trị đồng tiền Việt Nam, sinh thêm các yếu tố lạm phát. Chính phủ, bộ, ngành và các nhà quản lý, nhà khoa học bỏ qua sự lợi dụng độc quyền, thực chất là hùn hạp, che chắn cho đặc quyền đặc lợi, có hại cho nước, cho dân.
Đành rằng tranh luận về khoa học là cần thiết và cũng là việc đương nhiên. Nhưng có những vấn đề lý thuyết và thực tế của khoa học có khi tranh cãi hàng thập kỷ chưa xong.Tại sao các bộ, ngành chủ quản, các cơ quan chuyên trách, nhà quản lý kinh tế, nhà khoa học không dồn sức tập trung làm rõ việc quản lý, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để chống và hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng thất thoát điện năng,  từ nhiều năm qua đã trầm kha tiêu cực làm thất thoát nguồn tài chính lớn này, mà lại đi xoáy quá sâu, mất nhiều thì giờ với cái “máy phát điện bằng nước” nhỏ tí. Thế là không lo chuyện củ khoai, mà chỉ nhằm vào con kiến. Nghĩa là vẫn chưa khắc phục được cái lối làm ngược trong  quản lý, điều hành là “buông những cái cần phải nắm, nhưng lại đi lo nắm quá chặt những cái cần phải buông”. Mà lý do gì tình trạng tiêu cực, tham nhũng này trắng trợn kéo dài, biến tướng ngày càng phức tạp? Thiết nghĩ, cài nguồn ngân sách, nguồn thu tiền sử dụng điện bị mất quá lớn này, cái nỗi lo lắng, khổ cực của người dân dùng điện kiểu này cần bàn nhiều hơn sáng kiến “máy phát điện bằng nước”.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: