Truyện ngắn Chí Phèo bị cắt cảnh yêu đương

nguyenthanhnam1210: Cùng với đoạn kết Tấm Cám lại có thông tin 1 số tác phẩm đã được chỉnh sửa khi đưa vào chương trình  SGK PT

So với bản hoàn chỉnh trong “Tinh tuyển văn học Việt Nam – Văn học giai đoạn 1900-1945” thì truyện ngắn ‘Chí Phèo’ trong sách giáo khoa lớp 11 bị cắt 3 đoạn; trong đó đáng chú ý là cảnh nhân vật Chí Phèo yêu đương cùng Thị Nở trong vườn chuối.

Lược hai, cắt một

Những nhà biên soạn cuốn “Tinh tuyển văn học Việt Nam” gồm GS Nguyễn Đăng Mạnh, Trịnh Thu Tiết, TSChu Văn Sơn, TS Văn Giá nhận xét: “Chí Phèo” xứng đáng được xem là một kiệt tác. Ở tác phẩm này, nếu tiếp cận nguyên vẹn thì người đọc hiểu hơn ở đáy sâu tâm hồn tưởng như hoàn toàn đen độc của Chí Phèo niềm khao khát được yêu thương, khát khao được làm người.

Sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn cả Chương trình chuẩn và Chương trình nâng cao đem đến cho học sinh một tác phẩm Chí Phèo không còn nguyên vẹn.

Đối chiếu với bản hoàn chỉnh đang lưu hành song song thì ngoài 2 đoạn lược có phụ đề, có một đoạn lược thứ 3, nhà soạn sách đã quên không phụ đề. Nên có một đoạn Chí tỏ tình với Thị Nở được nhà văn Nam Cao mô tả đã biến mất.

Đoạn không còn trong tác phẩm Chí Phèo (SGK ngữ văn lớp 11) ở trang 185 Chương trình nâng cao và Chương trình chuẩn  trang 151 bắt đầu từ chỗ:

“....Hắn bẹo thị Nở một cái làm thị nảy người lên. Và hắn cười, hắn lại bảo: Đằng ấy còn nhớ gì hôm qua không? Thị phát khẽ hắn một cái, làm cái vẻ không ưu đùa. Sao mà e lệ thế. Xấu mà e lệ thì cũng yêu. Hắn cười ngất, và muốn làm thị thẹn thùng hơn nữa, hắn véo thị một cái thật đau vào đùi. Lần này thì không những thị nảy người. Thị kêu lên choe chóe. Thị nắm cổ hắn mà giúi xuống. Chúng tỏ tình với nhau. Không cần đến những cái hôn. Ai lại hôn, khi có những cái môi nứt nẻ như bờ ruộng vào kỳ đại hạn và cái mặt rạch ngang dọc như mặt thớt. Vả lại, có những cách âu yếm bình dân hơn, chúng cấu véo hoặc phát nhau…thiết thực biết mấy”.

Đoạn này có liên qua đến đoạn văn trước – được nhà văn Nam Cao mô tả tỉ mỉ giây phút Chí Phèo “thăng hoa” cùng Thị Nở.

Các nhà soạn sách đã lược đoạn văn dài trên 15 trang khổ 16×24 cm thành đoạn phụ đề đưa vào SGK. 15 trang được rút thành một đoạn:

Chí Phèo trở thành tay sai của bá Kiến, càng ngày càng hung hãn, ngang ngược và triền miên say. Chiều nay, như mọi buổi chiều, Chí Phèo lại “vừa đi vừa chửi”. Và cũng như mọi chiều, vẫn không một ai đáp lời hắn. Hắn tức tối, định ghé vào bất kỳ nhà nào đập bể một cái gì cho bõ tức. Hắn rẽ vào nhà Tự Lãng giữa lúc lão này đang uống rượu một mình dưới trăng. Chí Phèo sà xuống, cùng uống. Khi đã thỏa thuê, hắn lảo đảo ra về, nhưng không về lều mà ra bờ sông gần nhà. Ở đó, Chí Phèo đã gặp thị Nở – một người đàn bà xấu xí, ngẩn ngơ, ế chồng – ra sông kín nước ngồi nghỉ ồi ngủ quên. Họ ăn nằm với nhau và cùng ngủ say dưới trăng. Đến nửa đêm, Chí Phèo đau bụng, nôn mửa. Thị Nở dìu hắn vào trong lều, đặt lệ chõng, đắp chiếu cho hắn rồi ra về…”.

Một số nhà phê bình văn học nhìn nhận, đoạn này thể hiện một ‘góc con người’ của nhân vật Chí Phèo, cũng biết yêu thương và khát khao được làm người. Đáng tiếc là đoạn văn “người” nhất được nhà văn Nam Cao mô tả đã không được chuyển tải nguyên vẹn trong sách.

Vì sao phải lược?

Trao đổi với VietNamNet, GS Trần Đình Sử, Tổng chủ biên SGK Ngữ văn nâng cao cho biết, trong những tác phẩm văn học đưa vào nhà trường, ngoài những tác phẩm thơ, những bài ngắn, còn có nhiều tác phẩm dài. Do dung lượng tác phẩm dài nên phải xử lí bằng cách trích đoạn. Vì thời lượng dạy trên lớp không cho phép nên phải lược bớt một số đoạn.

“Cách làm sách cho phép lược bớt một số đoạn mà tác giả SGK thấy không phải là chủ đích dạy của  mình” – GS  Trần Đình Sử bày tỏ. Những đoạn đó khi tóm lược lại học sinh vẫn hiểu ý nghĩa của tác phẩm. Nếu không lược, lượng đọc quá dài, giáo viên không đủ thời gian dạy toàn bộ mà chỉ đủ để dạy một số khía cạnh”.

“Tác phẩm Chí Phèo lược bớt một số đoạn để số trang học sinh phải đọc trên lớp vừa với nhu cầu dạy học của nhà trường là điều bình thường” – GS Sử thông tin.

GS Nguyễn Đăng Mạnh, đồng chủ biên SGK Ngữ văn nâng cao  cũng giải thích lý do phải lược bớt tác phẩm là để phù hợp với thời lượng học trong trường. Trong quá trình soạn thảo, những người làm SGK cố gắng khi lược không ảnh hưởng lớn đến chủ đề tác phẩm, tư tưởng tác phẩm và hình tượng, tính cách nhân vật.

Ngoài lý do trên, vị giáo sư chuyên làm SGK cho học sinh cấp 3 giải thích thêm: việc lược bớt đoạn nhà văn Nam Cao mô tả tỉ mỉ quan hệ giữa Chí Phèo và Thị Nở trong vườn chuối cũng bởi không nên khơi gợi nhiều khiến cho học trò ở lứa tuổi này liên tưởng đến những chuyện không tốt, không có lợi cho giáo dục.

“Đối với trẻ con, không nên đưa những dẫn chứng quá tỉ mỉ về chuyện đó. Nó không có lợi về mặt giáo dục” – GS Mạnh lí giải.

Nhưng nhìn nhận tổng thể, theo GS Mạnh, một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh là một chỉnh thể nghệ thuật thì lược đi chỗ nào, câu nào ít nhiều cũng ảnh hưởng.

Còn việc duyệt đưa gì vào chương trình hoặc cắt bớt do một hội đồng thẩm định quốc gia về sách giáo khoa xem xét, quyết định.

Những người làm sách cũng giải thích họ đã cố gắng đảm bảo cho tác phẩm lưu hành trong nhà trường không bị xuyên tạc về tư tưởng và giữ được nguyên vẹn tính nghệ thuật của tác phẩm.

Theo GS Trần Đình Sử, không chỉ ở tác phẩm ‘Chí Phèo’, nhiều tác phẩm khác cũng bị lược như “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi hay “Vợ nhặt” của Kim Lân.
Kiều Oanh

Link gốc: http://www.vietnamnet.vn/vn/giao-duc/63792/vao-sach–truyen-chi-pheo-bi-cat-canh-yeu-duong.html

or:

Sách giáo khoa cắt cảnh

http://news.go.vn/tin/512858/Sach-giao-khoa-cat-canh.htm

+ + + + +

Cảnh Chí Phèo, Thị Nở yêu khiến học sinh cười, tán nhảm

Xung quanh thông tin cảnh yêu đương của Chí Phèo và Thị Nở sẽ bị cắt khi tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao được đưa vào sách giáo khoa (SGK), Kienthuc.net.vn đã có cuộc phỏng vấn GS. Nguyễn Đăng Mạnh.

Xin giáo sư cho biết ý kiến về thông tin tác phẩm Chí Phèo bị cắt ngắn khi đưa vào SGK?

SGK có yêu cầu về sư phạm, tác phẩm dài quá thì phải cắt ngắn đi. Chí Phèo là một tác phẩm dài nên phải cắt. Trên thế giới sách giáo khoa môn văn học đều thế cả. Nếu không cắt ngắn thì sẽ không thể đảm bảo được thời gian giảng bài.

Nhưng như vậy thì tác phẩm sẽ không hoàn chỉnh?

Tất nhiên một tác phẩm phải trọn vẹn, hoàn chỉnh thì nó mới là chỉnh thể nghệ thuật. Tuy nhiên việc cắt ngắn tác phẩm ở đây là lược qua một số chi tiết bằng đoạn tóm tắt. Như vậy người xem vẫn hiểu được nội dung tác phẩm.

Nhiều ý kiến cho rằng nếu bỏ bớt một vài tác phẩm trong chương trình thì học sinh sẽ được học hoàn chỉnh các tác phẩm còn lại mà không bị cắt bớt chi tiết?

Theo lịch sử văn học không thể bỏ bớt tác phẩm. Các tác phẩm đưa vào giảng dạy tại nhà trường hiện nay là những tác phẩm đã được chọn lọc kỹ càng và là những kiến thức tối thiểu học sinh cần phải có, phải biết.

Thưa giáo sư, khi lược nội dung như vậy, nếu học sinh muốn đọc trọn vẹn tác phẩm thì phải tìm đọc ngoài nhà trường?

Đúng vậy. SGK chỉ có những phần quan trọng nhất, giữ những phần cốt tử để thầy trò có thể  tập trung phân tích kỹ tác phẩm.

Giáo sư đánh giá thế nào về đoạn nội dung được lược qua là đoạn tả cảnh yêu đương của Chí Phèo và Thị Nở?

Thực tế nhiều năm qua, mỗi khi giảng tác phẩm này, đọc đến đoạn tả cảnh yêu đương của Chí Phèo -Thị Nở là học sinh lại cười ầm lên và tán nhảm.  Đoạn này không đem lại lợi ích cho học trò nên việc tóm tắt là cần thiết để tránh cảm giác về tình dục.

Xin cảm ơn ông!

Vũ Chương (ghi)

Link: http://bee.net.vn/channel/1983/201203/Canh-Chi-Pheo-Thi-No-yeu-khien-hoc-sinh-cuoi-tan-nham-1829039/

+ + + + +

Tại sao lại sợ ‘Chí Phèo’ khiêu dâm?

Chuyện lược bỏ đoạn cao trào tình cảm giữa Chí Phèo với Thị Nở trong truyện ngắn “Chí Phèo của nhà văn Nam Cao” có thể đặt ra cho nhiều người vấn đề đáng trăn trở. Độc giả Đào Anh Dũng nêu ý kiến

Việc lược bỏ một phần, đồng nghĩa với việc chỉ trích dẫn một phần tác phẩm văn học là chuyện tất yếu trong giáo dục do bị các yếu tố khách quan là thời lượng giảng dạy và độ dài tác phẩm quyết định. Giáo dục đương nhiên phải có chọn lọc, nếu không thì sẽ trở thành hoạt động giới thiệu hoặc xuất bản đơn thuần. Trước khi lược bỏ tác phẩm thì việc chọn lọc tác phẩm cũng đã là phép lược bỏ đối với đời sống văn học nói chung.

Giảng dạy cái gì, phần nào, như thế nào là việc của những người làm công tác giáo dục, và họ phải chịu trách nhiệm về nó. Một trong những yếu tố quan trọng được cân nhắc khi biên soạn sách giáo khoa (SGK) là tâm sinh lý học trò.

Chuyện lược bỏ đoạn cao trào tình cảm giữa Chí Phèo với Thị Nở có thể đặt ra cho nhiều người vấn đề đáng trăn trở.

Khi bàn về chuyện này, GS Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng học sinh lớp 11 vẫn là “trẻ con”. Theo tôi, đó là suy nghĩ lạc hậu. Về mặt sinh lý, các em đã có thể sinh sản, về mặt pháp luật các em chuẩn bị hết tuổi vị thành niên hay chuẩn bị phải tự chịu mọi trách nhiệm. Đúng ra, các em đang ở thời kỳ chuyển giao quan trọng. Các em cần và những người làm công tác giáo dục phải trang bị cho các em kiến thức căn bản về giới tính chứ không được né tránh.

Đã là một “kiệt tác” thì Chí Phèo tất nhiên không có phần nào “khiêu dâm”, nhưng nhiều “người lớn” lại sợ nó “khiêu” lên trong các em một cái “dâm” nào đó. Chính sự sợ hãi đã tố cáo lời ca ngợi và lên án tác phẩm. Hoặc nó không phải một kiệt tác, hoặc nó chỉ là “kiệt tác” đối với “người lớn” mà thôi. Dễ thấy ở đây một sự bất lực ở mảng giáo dục giới tính, bất lực trước nhiệm vụ giáo dục “toàn diện”.

Mỗi một tính từ đều nhất thiết song hành với một tính từ trái nghĩa. Giấu diếm cái này sẽ làm cái kia trở thành vô nghĩa. Không có kiệt tác nếu không có tác phẩm tầm thường, không có nghệ thuật nếu không có sự trần trụi hay thô kệch. Chúng ta không thể chỉ giảng dạy những “cây bút lớn”, những “kiệt tác”, những “nghệ thuật”; chúng ta cần có cả những ví dụ về hình ảnh trái ngược với chúng. Chúng ta không thể “nhồi” cho các em bất cứ cái gì cao đẹp nếu không đồng thời để các em đối mặt và phê bình những thứ xấu xa, hạn chế.

Đối với quan hệ nam nữ, đối với giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản, chúng ta đã và vẫn đang yếu kém, e dè, né tránh; chúng ta sợ “vẽ đường cho hươu chạy” nhưng không vì thế mà số ca nạo phá thai ở thanh thiếu niên giảm đi. Chúng ta cần thấy rằng: Thà vẽ đường cho hươu chạy đúng còn hơn để hươu chạy lung tung!

Link: http://www.vietnamnet.vn/vn/giao-duc/64173/tai-sao-lai-so–chi-pheo–khieu-dam-.html

+ + + + +

Chí Phèo: Cắt cảnh bẹo véo, tác phẩm sẽ méo

Dưới góc nhìn của nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân thì không nên né tránh những chi tiết được cho là ‘nhạy cảm’ với học sinh lớp 11 khi giảng dạy tác phẩm Chí Phèo. Từ câu chuyện này, ông cho rằng, kiểu giáo dục rèn cặp cho người học những “húy kỵ” và “kiêng khem” đã lạc hậu và xa rời thực tế.

Lược hay không lược, cần bàn luận?

– Thưa ông, tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao khi đưa vào trong trường phổ thông bị lượt bớt một số đoạn, trong đó có đoạn mô tả cảnh yêu đương của hai nhân vật Chí Phèo – Thị Nở với lý do là không nên khơi gợi nhiều khiến cho học trò ở lứa tuổi này liên tưởng đến những chuyện không tốt, không có lợi cho giáo dục. Là nhà phê bình văn học, ông bình luận thế nào về vấn đề này?

Ông Lại Nguyên Ân: Đây là vấn đề tôi mới nghe lần đầu. Tuy nhiên, trong nhà trường, nhất là trường phổ thông thì môn Ngữ văn luôn luôn gặp phải giới hạn. Ví như giới hạn về thời gian, mỗi nội dung được dành cho một thời lượng nhất định. Cho nên, cùng một đề tài người ta có thể dạy một số tiết là bao nhiêu thôi.

Vì giới hạn thời gian như vậy nên một tác phẩm chẳng hạn, không thể nào giữ nguyên được, thường phải “trích giảng”.
Đây là một tập quán trong giáo dục, cũng là một tập quán trong làm sách giáo khoa đã có từ lâu.

Ở Pháp, thế kỷ 20, với những cuốn dài như “Những người khốn khổ”, người ta (nhà xuất bản) đã làm những bản lược. Nếu không lược hẳn các đoạn bị coi là dài dòng, không đọc cũng không sao (cẩn thận hơn thì nhà xuất bản soạn mấy câu tóm tắt), thì người ta dùng kiểu in có kết hợp giữa con chữ to và con chữ nhỏ (đoạn nào cho là cần đọc thì in cỡ chữ to hơn, đoạn nào cho là có thể tạm bỏ qua thì in cỡ chữ nhỏ hơn).

Tôi nói như vậy để tỏ rõ rằng việc sách ngữ văn cho học sinh đọc tác phẩm “Chí Phèo” mà làm theo cách nói trên, là  không có gì lạ.

Theo tôi, sẽ tốt hơn nếu dùng cách in có kết hợp giữa con chữ to và con chữ nhỏ như nói trên; còn cách lược bỏ một số đoạn truyện, soạn lời tóm tắt chuyển tiếp, thì dù sao tác phẩm cũng đã bị cắt xén.

Ai cũng phải tin rằng tác phẩm nguyên vẹn (không thiếu chữ nào) sẽ cho người tiếp ta cận đầy đủ hơn hẳn so với tác phẩm bị cắt bớt từng đoạn, dù là những đoạn nhỏ.

Tất nhiên, trong số những học trò từng bị đọc những văn bản bị cắt bớt ấy có những người sau này sẽ có cơ hội, thậm chí sẽ tự tìm để tiếp cận với văn bản đầy đủ của chính tác phẩm ấy.

Nhưng lại cũng có, và có thể có nhiều hơn, những người sau lần đọc phải cái văn bản bị cắt bớt kia, hầu như suốt đời không bao giờ có dịp đọc lại, tiếp cận lại dạng tác phẩm ấy, dù là văn bản đầy đủ hay văn bản bị cắt bớt; khả năng tiếp cận “méo mó” ở những người ấy về tác phẩm kia là khó tránh.

Nhưng nếu yêu cầu tiếp cận tác phẩm văn chương trong lĩnh vực ngữ văn lại đặt trong sự kết hợp với yêu cầu giáo dục về giới tính, vấn đề lại là xét xem với lứa tuổi nào thì có thể tìm biết những chuyện gì của giới tính, của đời sống tính dục?

Đây là thuộc chương trình Ngữ văn phổ thông trung học, tức là lứa tuổi 15-17. Liệu có quá trẻ con khi không để lứa tuổi này không nên biết đến những đoạn mô tả quan hệ giao tiếp suồng sã nhau giữa Chí Phèo và Thị Nở, từ cử chỉ, lời nói, rồi cả đến lời kể của người dẫn chuyện là chính tác giả Nam Cao?

Tôi nghĩ, về chuyện này, các nhà sư phạm nên có sự suy nghĩ lại, và nên đối chiếu với thực tế đời sống hiện nay của giới trẻ, cũng nên nhìn rộng ra thế giới để thấy những cách xử lý mới mẻ và thích đáng hơn của giới sư phạm nước người trên vấn đề giáo dục giới tính.

Còn nói chung, đứng về mặt lợi ích của độc giả đọc tác phẩm thì: tác phẩm của tác giả như thế nào ở bản tạm gọi là bản chuẩn hiện có thì nên in nguyên ra như thế.

Bởi vì, đứng về mặt văn bản, để có một bản lưu hành hiện tại, cũng đã là kết quả của cả một quá trình khá phức tạp rồi.
Trong quá trình từ khi được tác giả viết ra, cho công bố, rồi từ lúc đó tác phẩm được lưu truyền, thì đã và sẽ không tránh khỏi có những phần những đoạn, những chữ những câu, bị mất mát hay sai lệch đi, do sắp chữ sai, in sai, cũng do bàn tay của những người biên tập, nhà xuất bản; rồi còn do chế độ kiểm duyệt của từng thời; nó đã bị mất đi rồi mà tác giả không còn sống nữa để có cơ cứu lại tác phẩm nguyên vẹn.

Vả lại, sau quá trình được lưu truyền hàng dăm ba chục năm mà tác giả, nếu còn sống, lại đòi sửa văn bản thì chuyện ấy cũng làm phức tạp hóa thêm tình hình, bởi cái được thưởng lãm, được cho là có giá trị, chính là dạng văn bản tác phẩm hồi công bố dăm ba chục năm trước chứ không phải cái tác phẩm ở dạng văn bản bây giờ tác giả định đưa ra.

Cho nên, ở trong những trường hợp như thế này (cắt bớt từng phần truyện “Chí Phèo” ở sách soạn cho học sinh phổ thông trung học), dẫu có hữu ý hay vô tình, dù thận trọng đến đâu, dù ý thức xử lý cẩn trọng đến cỡ nào để cố gắng không phương hại đến tác phẩm, thì trong thực tế, quý vị soạn giả vẫn là những người đã đem tới cho người đọc một tác phẩm bị cắt xén. Thực chất sự việc là như thế.

Không nên lảng tránh

– Ý ông là, trong giới văn học có hàng loạt văn bản cho một tác phẩm. Để tránh hiểu lệch nên tôn trọng “tính nguyên vẹn” của tác phẩm khi đưa đến cho ngược đọc, nếu không sẽ kéo theo những cách hiểu lệch lạc?

Ông Lại Nguyên Ân: Thế nào cũng sẽ có những cách hiểu lệch lạc.

Nhìn vào những đoạn bị cắt xén cụ thể, chúng ta có thể trả lời được chắc chắn đây chỉ là thu gọn tác phẩm hay chủ yếu là do muốn né tránh vấn đề gì?!

Trong trường hợp như thế này, rõ ràng, những đoạn đã lược đi lại liên quan đến quan niệm và chủ trương giáo dục giới tính trong nhà trường.

Cho nên, tôi vẫn giữ quan điểm: tác phẩm nguyên vẹn như thế nào thì nên đưa đến cho người đọc và học sinh như vậy. Đây là học sinh cấp 3 rồi, không hoàn toàn là trẻ con nữa.

– Lý giải của các nhà làm sách, vì thời lượng chương trình có giới hạn nên không thể giữ nguyên những tác phẩm quá dài nên phải lược, theo ông có hợp lí?

Ông Lại Nguyên Ân: Nếu là tiểu thuyết thì phải có phần tóm tắt, sau đó có những đoạn đọc văn. Còn tác phẩm “Chí Phèo” là truyện ngắn, tuy rằng dung lượng của tác phẩm này tương đối dài so với truyện ngắn thông thường.

Trong trường hợp này, nhu cầu về thời lượng đọc có lẽ cũng có nhưng ít thôi, tuy vậy lại liên quan nhiều hơn đến những chi tiết mà nhà sư phạm không muốn cho học sinh biết.

– Trong ba đoạn lược có đoạn tác giả Nam Cao mô tả tỉ mỉ quan hệ của Chí Phèo – Thị Nở trong vườn chuối…Những nhà soạn sách cho rằng chi tiết này nhạy cảm, không cần kích thích thêm trí tò mò của học sinh. Ông nghĩ thế nào về lý giải này?

Ông Lại Nguyên Ân: Đây chính là vấn đề đối với những người dạy văn, đối với giới sư phạm của ta bây giờ.

Tức là ở lứa tuổi đó, trên thực tế, nếu người thầy không nói với học trò, ông thầy không cho học trò đọc những điều tương tự thế này thì họ cũng sẽ tự tìm đọc để biết, ở những chỗ khác, qua sách báo tài liệu khác; rồi còn rỉ tai nhau nữa; vì ở lứa tuổi này, ứng với sự phát triển của cơ thể và tâm sinh lý, từng học sinh đã ít nhiều có những trải nghiệm riêng.

Việc xử lý này phản ánh một thái độ lảng tránh, một dạng xử lý trong giáo dục nói chung thuộc một thời kỳ đã qua, đã tỏ ra lạc hậu so với sự phát triển thực tế.

Ở góc độ một tác phẩm nguyên vẹn mà bị lược thế này sẽ có những phương hại không nhỏ.

Lược bớt thế này thì tác động của tác phẩm “Chí Phèo” sẽ giảm đi cả về hình tượng nhân vật, cả về sự cảm nhận cái thế giới mà nhà văn muốn trình bày trước người đọc.

Anh khoét đi vài góc của một bức tranh rồi đưa đến cho công chúng thì cảm nhận của người ta về bức tranh làm sao mà không đổi khác, không méo mó?!

Nhất là từ phía tiếp cận văn học. Tốt nhất là nên đưa ra văn bản nguyên vẹn. Văn bản rất quan trọng, liên quan đến diễn ngôn của người kể chuyện, nó chuyển đổi liên tục điểm nhìn, tư thế kể, mô tả, … mỗi sắc thái chuyển đổi đó đều liên quan đến ý đồ của tác giả đưa ra.

Thành ra mọi sự can thiệp, kể cả việc lược đi vài ba đoạn, thì đều phương hại đến tác phẩm.

Tôi nói gọn lại: tác phẩm chỉ có thể được người đọc cảm nhận toàn vẹn nếu ta đưa đến cho họ một văn bản toàn vẹn, không thiếu không thừa một chữ nào do tác giả viết ra.

Học sinh sẽ có ý niệm lệch với tác phẩm

– Theo như phân tích của ông thì việc né tránh những chi tiết cho rằng nhạy cảm với học sinh còn dẫn đến một cách giảng văn theo lối mòn, khuôn mẫu và khó phát huy được tính sáng tạo?

Ông Lại Nguyên Ân: Cách dạy văn trong nhà trường của ta vẫn dừng lại ở việc quy ước, ước lệ hơi nhiều.

Nói một cách nặng lời thì cách giảng dạy thế này vẫn thích hợp trong việc tạo ra những quy ước cho một số sinh hoạt cộng đồng mang tính chất chính thống.

Tức là nền giáo dục đó rèn cho học sinh biết rằng trong những sinh hoạt đó người ta phải tránh những cái gì.

Đây là kiểu giáo dục rèn cặp cho người học những “húy kỵ” và “kiêng khem”. Trong kiểu đó, trên thực tế người ta vẫn ít nhiều giả dối trước đời sống con người, ví dụ như đời sống tình dục… Và giả dối trước một số vấn đề và một số hiện tượng lịch sử của chính cộng đồng người Việt…

Cách giảng dạy này đã lạc hậu so với các nền giáo dục tiên tiến.

Theo như tôi biết, cách dạy phổ biến ở nhiều nước thì thường học sinh tiếp cận tác phẩm, đọc trước tác phẩm ở nhà, khi lên lớp thì giáo viên tổ chức cho học sinh tự do nói những cảm nhận về tác phẩm, có thể để học trò thảo luận, tranh cãi, người thầy chỉ đưa ra những gợi ý về cách hiểu chứ không đưa ra những kết luận chắc chắn, rốt ráo về tác phẩm.

Tôi nhớ từ những năm 1980 trên tạp chí “Văn học nước ngoài” của Liên Xô có bài của một giảng viên Mỹ kể học trò Mỹ của ông ta cảm nhận thế nào sau khi đọc “Sông Đông êm đềm” của nhà văn Xô-viết Mikhail Sholokhov.

Họ bộc bạch những suy nghĩ rất thực về câu chuyện ở một xứ sở xa xôi chỉ biết qua bản dịch. Nên nhớ sau lần xúc tiếp với tác phẩm ở nhà trường, người học có thể sẽ còn có dịp tiếp xúc với tác phẩm ấy vào lúc khác, ở lứa tuổi khác, với kinh nghiệm sống đã khác, và không khỏi có sự cảm nhận khác.

Cách dạy môn văn của ta hiện rất khuôn mẫu, khuôn sáo, và có vẻ như là tình trạng không tránh được. Thế mà, đọc vốn là hành vi tiếp cận tự do đối với tác phẩm. Sáng tạo thì phải tự do. Người học cũng phải tự do, người giảng cũng phải tự do.

Từ những năm 1991- 1992 các giáo viên ĐH Sư phạm đã có đóng góp lớn vào sự thay đổi trong biên soạn chương trình ngữ văn phổ thông, làm cho môn này thoát khỏi tình trạng minh họa thô thiển cho các nội dung chính trị, để chuyển sang hướng học sinh vào việc đọc và hiểu cái đẹp của tác phẩm văn chương. Riêng chương trình 3 năm cuối phổ thông đã thể hiện được sự phát triển của Văn học Việt Nam từ trung đại đến hiện đại.

Tuy nhiên, cách dạy môn văn ở Việt Nam bây giờ chủ yếu vẫn là thầy giảng trò chép; vẫn cung cấp tri thức và rèn kỹ năng theo lối áp đặt, cố tình khuôn mẫu hóa kiến thức và kỹ năng, không phát huy được tính sáng tạo.

Cách dạy như vậy, và với việc cung cấp những văn bản bị cắt xén như ta đã bàn, những học sinh duy nhất một lần tiếp xúc với tác phẩm sẽ khó tránh khỏi tình trạng hiểu méo mó từ lần đầu tiên tiếp xúc tác phẩm.

Link: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/63795/chi-pheo–cat-canh-beo-veo–tac-pham-se-meo.html

+ + + + +

Cắt cảnh vườn chuối, truyện Chí Phèo như bị… “thiến”

“Lúc cưỡng dâm Thị Nở, Chí Phèo vẫn là một con vật, sau hành động tính giao ấy Chí mới trở lại là người”, nhà phê bình (NPB) Phạm Xuân Nguyên nhận định.

Giải pháp nghệ thuật không thể cắt

Theo NPB Phạm Xuân Nguyên, phần đầu của truyện chỉ là phần trình bày lai lịch, nguồn gốc và sự lưu manh hóa do bị dồn đến bước đường cùng khiến Chí Phèo méo mó biến dạng cả về thể chất và nhân cách.

Truyện ngắn bao giờ cũng có một biến cố để làm nên cái đỉnh, xung đột để mở nút và kết thúc truyện. Trong Chí Phèo thì “sự kiện vườn chuối” chính là biến cố, cao trào, là cái đỉnh đó.

Khi kể quá trình tha hóa rồi, nhà văn cần một giải pháp nghệ thuật. Người ta chờ giải pháp nghệ thuật ấy của Nam Cao. Chí bị lưu manh hóa, bị biến thành con vật người là bởi các thế lực ở làng Vũ Đại, và để cho Chí trở lại làm người nhà văn đã chọn một giải pháp nghệ thuật là để Chí Phèo cưỡng dâm Thị Nở.

Hành động đó mang tính bản năng nhưng đã đánh thức tính người ở hai nhân vật này. Trong truyện, Nam Cao đã chuẩn bị rất kĩ hoàn cảnh và tình huống để cho hai nhân vật “lâm trận” như vậy.

Trong “sự kiện vườn chuối” Nam Cao dàn dựng cả một đêm trăng sáng, cả một cuộc rượu và sự hồn nhiên hớ hênh của Thị Nở, gió thì hây hây và đó không phải là sự ngẫu nhiên. Ông đã cài cắm chi tiết rất công phu và tài tình. Nam Cao đã dùng đến bản năng để giải tỏa giúp cho Chí Phèo và Thị Nở được làm người. Và đó là giải pháp nghệ thuật không thể nào cắt bỏ.

Giá trị của “sự kiện vườn chuối”

Lúc vào cuộc cưỡng dâm đó, Chí Phèo vẫn là một con vật với bản năng tính giao. Sau hành động tính giao ấy Chí mới trở lại là người, thể hiện ở chi tiết Chí bị cảm.

Nam Cao đã chuẩn bị rất kĩ cho chi tiết này. Từ khi ở tù về lại làng Vũ Đại, Chí cứ uống rượu rồi lăn lê ngoài trời, mưa nắng cũng không bận gì, giống như con vật có bao giờ biết ốm.

Chí bị cơn cảm, đó là cơn cảm “người” và cũng chính cơn cảm đó làm cho Thị Nở biết nấu được bát cháo hành, là một nghĩa cử, một thiên chức của người phụ nữ.

Từ cơn cảm ấy Chí Phèo bắt đầu phục hồi được trí nhớ. Chí bị đánh mất kí ức, và bây giờ kí ức được vãn hồi. Chí nghe tiếng người lao xao đi chợ, Chí trở lại con người.

Cũng từ kí ức đó Chí lấy lại tiếng nói, trước đó Chí không nói mà chỉ có tiếng hét, chửi. Và câu đầu tiên Chí nói là với Thị Nở “giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ”.

Sự giằng co phần vật với phần người trong Chí để chân hắn rẽ bước sang nhà Bá Kiến chính là phần người đã hướng hắn đi cũng bởi nhờ có “sự kiện vườn chuối” ấy.

NPB Phạm Xuân Nguyên cho biết thêm, khi đi giảng cho các đội tuyển học sinh giỏi văn ông nhận ra rằng lâu nay khi nói về truyện Chí Phèo hình như không ai phân tích biến cố “sự kiện vườn chuối” này cả.

Theo ông thì đoạn này cần phải được chọn giảng dạy. Bao nhiều công phu nghệ thuật của tác giả mà lại bỏ, cắt sự kiện này đi giống như cắt của quý của con người vậy.

Cắt sẽ mất chức năng, nhiệm vụ dạy văn

Nếu có cắt, lướt qua hoặc bỏ không nói đến “sự kiện vườn chuối” vô tình chúng ta đã làm mất đi chức năng nhiệm vụ dạy văn. Dạy văn là dạy tác phẩm văn học, dạy cách thưởng thức và dạy cách phân tích.

Tác phẩm văn học là dụng công sáng tạo của tác giả, họ dày công sáng tạo và được đưa vào nhà trường giảng dạy thế mà chúng ta lại cắt nó đi, cắt chi tiết độc, chi tiết mang giá trị tư tưởng nghệ thuật cao ở trong tác phẩm thì còn dạy cái gì?

Cái tài của anh là phải lý giải tại sao nhà văn lại chọn giải pháp nghệ thuật này. Khi đưa ra xung đột, đẩy lên thì phải cần có giải pháp nghệ thuật. Và ở đây, nhà văn Nam Cao đã chọn giải pháp nghệ thuật bằng “sự kiện vườn chuối”.

Một hành động tính giao của động vật nhưng để trở lại làm người cần được giảng, còn hơn để học trò tự tìm đọc rồi nghĩ bậy bạ. Đúng là thời lượng có hạn nhưng cái giỏi của người làm chương trình, người làm sách là anh chọn ra được đoạn hay nhất, quan trọng nhất để dạy.

Chúng ta đã có giáo dục giới tính, sách sinh học cũng đã nói về bộ phận cơ thể và cơ chế sản sinh ra con người. Đã trang bị kiến thức về giới để không để xảy ra hậu quả đáng tiếc vậy tại sao khi đưa vào văn học chúng ta lại ngại đề cập, lại sợ?

Dạy văn là dạy cho người học biết cái hay cái đẹp, cái tài tình, nhân văn, để người học văn không chỉ hiểu được tác phẩm mà còn học được kĩ năng, cách thức phân tích một truyện ngắn, vậy nên việc cắt này là không chấp nhận được, NPB Phạm Xuân Nguyên kết luận.

Hoàng Chiến Thắng (ghi)

Link: http://bee.net.vn/channel/1983/201203/Cat-canh-vuon-chuoi-truyen-Chi-Pheo-nhu-bi-thien-1829271/

+ + + + +

Chí Phèo: Lược cảnh vườn chuối là mất cái đẹp nhân văn

Dưới góc nhìn của một nhà Mỹ học, Lưỡng quốc TSKH Đỗ Văn Khang đã chia sẻ với kienthuc.net.vn về “sự kiện vườn chuối” trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao

– Từ phương diện mỹ học, ông nhìn nhận thế nào về “sự kiện vườn chuối”?

Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao là một viên ngọc của văn học hiện thực phê phán Việt Nam, có thể nói là hoàn mỹ và “sự kiện vườn chuối” là thành phần tế bào gốc của tác phẩm. Cái đẹp của chi tiết Chí Phèo giao hoan với Thị Nở là cái đẹp nhân văn, là tình người của lẽ thường.

– Nếu lược bỏ chi tiết này, thưa ông?

Đã là viên ngọc hoàn mỹ thì không thể có vết xước, hay cắt, ghép. Lược bỏ thành phần tế bào gốc thì làm sao còn thành tác phẩm, cũng giống như viên ngọc đẹp bị cắt đi phần sáng nhất của nó vậy.

– Đã nhiều tác phẩm viết về thân phận con người bị đẩy đến bước đường cùng, và tất cả đều có then cài cửa bật tung cho nhân vật bước thoát. Còn với Chí Phèo, then cửa nằm ở đâu cho nhân vật?

Trong văn học Việt Nam đã có nhiều loại nhân vật: con người thấp hèn bị dồn đến đường cùng nhưng quyết không chịu tha hóa (Chị Dậu); loại nhân vật tha hóa ngược, bản chất hắn là kẻ thấp hèn, trong một xã hội nhố nhăng lại thành Anh hùng cứu quốc (Xuân tóc đỏ).

Riêng nhân vật Chí Phèo là kiểu nhân vật bị tha hóa nhưng quyết không chịu tha hóa đến cùng. Cái hay của tác phẩm Chí Phèo là tư tưởng thẩm mỹ độc đáo của Nam Cao, được tích góp từ đầu tác phẩm cho đến chi tiết giao hoan với Thị Nở đã làm Chí Phèo ngộ ra bản chất con người mình.

Sau đó Chí thốt lên: “Ta muốn làm người lương thiện, nhưng ai cho ta lương thiện”. Đó là điểm sáng nhất của tư tưởng thẩm mỹ căn bản của Nam Cao.

Ở tác phẩm Chí Phèo, tư tưởng thẩm mỹ căn bản của Nam Cao đã dồn nén, tích góp suốt từ đầu tác phẩm cho đến khi Chí Phèo đòi được lương thiện.

– Cái đẹp trong “sự kiện vườn chuối” có khiến ông liên tưởng đến nhà văn nào trên thế giới không?

Về nghệ thuật thể hiện nhân văn, tôi đang nghĩ đến tác phẩm Đức cha Xerghi của đại văn hào Nga, L.Tônxtôi.

Cha Xerghi lúc trẻ tên là Kasátxki vốn tôn sùng Nga Hoàng, đã từng nguyện chiến đấu dưới cờ của ông ta, nhưng sau bỗng nhận ra Nga Hoàng chỉ là tên “xỏ lá”; bởi hắn đã hái mất cái cao quý nhất của vị hôn thê của Kasátxki. Anh thất vọng bỏ đi tu.

Tu đã đắc đạo, chỉ ít tháng nữa đức cha sẽ được làm lễ lên thiên đường. Bỗng một cô gái trẻ vốn tôn sùng đức cha đến gõ cửa và lôi đức cha từ 9 tầng mây xuống trần gian. Sau đêm đó đức cha bỗng nhận ra, tất cả là phù phiếm, chỉ có cuộc đời là quyến rũ vô ngần.

Sự xuất hiện của cô gái tôn sùng đức cha cũng là thành phần tế bào gốc của tác phẩm bởi nhờ có tình yêu cháy bỏng của người trinh nữ mà đức cha tỉnh ngộ, nhận ra mình đang ở bến mê.

– Ý của ông là đức cha đã được đánh thức bởi tình yêu và Chí Phèo cũng vậy?

Vị thế của hai nhân vật trong cuộc đời ở hai tác phẩm có khác nhau. Một đằng thì đạo cao đức trọng, một đằng lại đang ở dưới đáy; một đằng do nhà văn lỗi lạc của Nga viết, một đằng do nhà văn xuất sắc của Việt Nam viết.

Đều là chi tiết tưởng như không cao quý, nhưng lại là cơ sở để hai nhân vật nhận ra con đường đi tới cái đẹp rất nhân văn. Một đằng là đức cha chối bỏ nơi tu hành để đi tìm lý tưởng sống mới của mình, một đằng Chí Phèo phải kết thúc mình để làm người lương thiện.

Chính nhờ đó mà L.Tônxtôi đã được đánh giá rất cao, rằng ông là người tạo Chúa. Thanh niên Nga lúc đó chỉ có 2 lựa chọn là thờ Chúa Nga Hoàng, hoặc là thờ Chúa Giê su. L. Tônxtôi chối từ cả hai để tự tìm Chúa của mình trong cuộc đời. Ý nghĩa khuyên thanh niên dấn thân để tìm ra lẽ sống.

Chính “sự kiện vườn chuối” khiến Chí Phèo tỉnh ra, đi đòi quyền làm người lương thiện. Cơ sở đó đã làm cho truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao thành một viên ngọc sáng, đưa ông thành nhà văn hiện thực phê phán xuất sắc nhất Việt Nam.

– Nghĩa là nếu lược chi tiết đó, truyện ngắn  Chí Phèo của Nam Cao sẽ từ một viên ngọc sáng trở thành không hoàn mỹ?

Tôi nghĩ thế.

Link: http://bee.net.vn/channel/1983/201203/Chi-Pheo-Luoc-canh-vuon-chuoi-la-mat-cai-dep-nhan-van-1829546/

+ + + + +

Từ vụ lược truyện ‘Chí Phèo’: Báo động đỏ về tình trạng dạy văn

Theo nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, việc cắt bỏ “sự kiện vườn chuối” đã làm mất đi cái hay, giá trị của tác phẩm Chí Phèo rồi thì biết dạy học sinh cái gì?

Câu chuyện Sách giáo khoa Văn học lớp 11 khi đưa tác phẩm Chí Phèo vào giảng dạy trong nhà trường đã bị cắt nhiều đoạn, trong đó quan trọng nhất là sự kiện Chí Phèo gặp Thị Nở ở vườn chuối trong đêm trăng sáng (sự kiện vườn chuối), đã gây nhiều ý kiến tranh cãi trong tuần qua. Để có cái nhìn rõ ràng hơn về việc này, báo điện tử Infonet đã có cuộc trao đổi với Nhà phê bình văn học, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội Phạm Xuân Nguyên.

Phá vỡ nội dung và cấu trúc tác phẩm

Theo Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội Phạm Xuân Nguyên, về lý thuyết, truyện ngắn thường bao gồm phần trình bày, đến biến cố, đỉnh điểm, xung đột, sau đó là mở nút và kết thúc. Nhà văn nào viết truyện, sau phần trình bày cũng phải đưa đến biến cố khai thông truyện, tạo bước ngoặt của truyện với đỉnh điểm được đẩy lên cao trào.

Với Chí Phèo, “sự kiện vườn chuối” là đỉnh điểm, là biến cố của truyện, còn lại toàn bộ phần trước của sự kiện này (10 trang văn bản) chỉ là trình bày, từ lai lịch Chí Phèo, từ đứa trẻ bị bỏ rơi lớn lên thành lưu manh. Từ lai lịch Chí, tác giả dẫn ra phổ hệ của Binh Chức, Năm Thọ, và từ phổ hệ đưa ra lý giải tại sao những thanh niên, nông dân hiền lành bị lưu manh hóa, là do môi trường xã hội. Trong làng Vũ Đại, cả nhà Thị Nở cũng chịu chung số phận bị xa lánh. Họ đều là những người sống ngoài lề xã hội, cộng đồng, sống ngoài rìa làng Vũ Đại. Và họ không được thừa nhận.

Toàn bộ phần trình bày của Chí Phèo là giọng kể của thì quá khứ. Ở đây Nam Cao đã chọn giải pháp này – “sự kiện vườn chuối”, hay thực ra là một vụ cưỡng hiếp, cưỡng dâm của Chí Phèo với Thị Nở. Giải pháp này không hề khiên cưỡng vì trước đó ông đã chuẩn bị rất kỹ cho sự kiện này, chuẩn bị từ xa và cài cắm các chi tiết một cách chặt chẽ, không thừa không thiếu.

Tại sao Chí và Nở là hai con người cùng bị bật ra khỏi cộng đồng? Tại sao cả làng sợ Chí nhưng Nở thì không sợ? Tại sao cả làng tránh không đi qua nhà Chí nhưng Thị thì vẫn cứ đi? Cả 2 con người này đều chưa được làm người. Một người bị coi như là “trời hành” với hình hài không ai đoái hoài, dù Thị là một người con gái. Còn một người bị đày đọa, bị biến dạng cả về hình dáng và nhân cách, hay nói đúng là bị biến từ con người thành con vật.

Nhà văn đã khéo léo gài để Thị Nở đi qua đi lại như bình thường mà không hề ý thức được mình cũng là một người con gái. Thế nên mới có chuyện đêm trăng sáng và chuyện Chí Phèo say rượu. Và vì trăng sáng như mọi hôm nên Thị lại ra sông kín nước và hớ hênh. Chí Phèo cũng như mọi hôm lại say rượu. Lúc đó hoàn toàn là bản năng của một con đực, bản năng tính giao.

Và sự kiện vườn chuối lúc này được kể ở thì hiện tại nhưng Nam Cao đã chọn cái đó, rất hợp lý, tự nhiên, không hề khiên cưỡng. Có thể ông nghĩ nhiều giải pháp nhưng cuối cùng ông đã chọn giải pháp này, rất chặt chẽ về nghệ thuật

Chính ở đó, chính nhà văn dùng một hành động mang tính bản năng đó để cho các nhân vật trở lại làm người. Lần đầu tiên được ăn nằm, điều này hết sức bình thường cũng như ở con vật. Bản năng của một bên không được đánh thức (Thị Nở) và một bên bị thui chột đi (Chí Phèo – Bị thui chột là vì hắn có, bằng chứng là khi bóp chân cho bà Ba hắn cũng run bắn lên, nhưng dần dần bản năng này đã mất đi).

Và sau sự kiện vườn chuối, sau cuộc mây mưa đó thì phần người đã được đánh thức. Đầu tiên là Chí cảm, hắn bị ốm. Trước đó, cả 10 trang nhà văn miêu tả dù lăn lộn thế nào Chí cũng không bao giờ ốm, con vật có bao giờ biết ốm. Và khi Chí ốm, bản năng người nữ, người vợ, người mẹ thức dậy trong Thị. Thị biết nấu bát cháo hành giải cảm. Đó chính là 2 hành động trở lại làm người của 2 nhân vật.

Suốt quá trình Chí bị lưu manh hóa, bị mất ký ức, hắn không nhớ gì cả, thì giờ phục hồi sau bát cháo hành, trong lúc đợi Thị Nở, Chí biết nghe tiếng người qua chợ, và nhớ có thời mơ ước lấy vợ lấy con. Và quan trọng hơn, từ ký ức, Chí được trả lại tiếng nói. Trước đó, suốt cả truyện, câu đầu tiên Chí nói là nói với Thị Nở: “Giá cứ mãi thế này thì thích nhỉ”.

Nhà văn đã trả lại bản tính người cho Chí nhưng vẫn cứ chập chờn giữa phần người và phần con. Điều này hết sức biện chứng vì lâu nay Chí sống đời con vật trong thân xác người. Rồi Chí thèm rượu, Chí điên và xách dao đi tìm Nở. Nhưng rồi phần con vẫn chập chờn nên bước chân theo thói quen hắn lại kéo đến nhà Bá Kiến. Nhưng lần này thì khác, trong Chí đốm lửa người nhen lại.

Báo động tình trạng dạy và học văn hiện nay

Theo nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, một tác phẩm đưa vào dạy trong nhà trường, tất nhiên có thể bị giới hạn thời gian, quan trọng là chọn tác phẩm đạt giá trị nghệ thuật. Nhưng chọn đoạn nào? Ví dụ như truyện Chí Phèo, không thể lược hẳn đoạn quan trọng nhất như thế.

Với kinh nghiệm đi dạy học sinh giỏi, dạy đội tuyển nhiều năm qua, ông Nguyên thấy gần như từ trước đến nay, giáo viên thường bỏ qua sự kiện vườn chuối, như thế chẳng khác nào phụ công tác giả, làm méo mó tác phẩm. Giảng văn không thể né tránh, mà phải dạy các em biết cách thưởng thức tác phẩm. Khi đã đưa Chí Phèo vào giảng dạy trong nhà trường, nếu lờ đi, học sinh vẫn có thể đọc ở nhà và biết được, nếu giáo viên không diễn giải, để học sinh tự suy luận còn nguy hại hơn rất nhiều.

Lý thuyết giảng văn trong nhà trường là phải để học sinh hiểu được giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Như giảng Chí Phèo hoàn toàn có thể nói cảnh sự kiện vườn chuối là cuộc cưỡng bức, nhưng đó chính là sự “cao tay” của nhà văn khi chọn giải pháp nghệ thuật này.

Đừng nói đến cảnh hiếp dâm là phải tránh vì khi dạy sức khỏe sinh sản, giáo dục giới tính cho học sinh cũng còn phải nói “trắng phớ” ra. Vì thế, không thể viện lý do là để tránh những tác động xấu như ban biên soạn Sách giáo khoa đã làm. Vì không thể ngăn cấm được, chỉ có thể khuyên răn và dạy để học sinh biết cách tránh.

Mỗi truyện có một biến cố một giải pháp, cho nên cắt bỏ hoặc tóm lược hoặc lờ đi là không đúng, và làm mất đi giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Ngay cả truyện Tấm Cám cũng vậy, người ta cứ kêu ca về cái kết của truyện, nhưng nếu đặt vào văn cảnh thì mới thấy đó là hết sức hợp lý và thuyết phục. Và bao đời nay, tại sao người Việt vẫn chấp nhận cô Tấm như hình mẫu của dịu dàng, hiền lành?

“Giảng văn quan trọng nhất là phải tôn trọng văn bản nghệ thuật, tôi thấy ngạc nhiên là tại sao người ta cứ lờ đi, không phân tích trực tiếp? Ít nhất biết cách phân tích sẽ giúp học trò hiểu và tránh được những tác động không đáng có”, ông Nguyên nói.

Thanh Huyền

Link: http://infonet.vn/giao-duc/tu-vu-luoc-truyen-chi-pheo-bao-dong-do-ve-tinh-trang-day-van/a17740.html

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: