Nhà khoa học giả hiệu và thứ khoa học xấu xí – Phan Sơn

Nói đến khoa học, không ít người vẫn nghĩ rằng đây là thánh đường của sự thuần khiết và hoàn mỹ. Tuy nhiên, sự thật không như thế. Cũng như thế giới hỗn độn bên ngoài, ngôi nhà này chất chứa không ít giả tạo. Người tạo ra những giả tạo này được mệnh danh là “nhà khoa học giả hiệu”, còn sản phẩm họ tạo ra là “thứ khoa học xấu xí”.

BÀI 1: Đảo lộn giá trị khoa học

SGTT.VN – Mục tiêu chính của khoa học là xây dựng cho nhân loại một nền tảng kiến thức chính xác về thế giới tự nhiên, trong đó người làm khoa học đòi hỏi phải có tính trung thực, cởi mở thông tin và làm việc nghiêm túc. Thế nhưng do áp lực vật chất, danh vọng và tiếng tăm, không ít nhà khoa học đã đánh mất mình bằng việc làm gian dối.

Ảo tưởng năng lượng rẻ tiền

Vấn đề năng lượng là thách thức lớn nhất của con người hiện tại và cả tương lai. Thế giới này sẽ hoàn toàn đảo lộn nếu có được một nguồn năng lượng sạch và bất tận. Khi đó con người sẽ không còn biết đến những cuộc chiến giành giật dầu mỏ và trái đất không còn bị đe doạ bởi nạn ô nhiễm. Thực tế thì có một nguồn năng lượng như thế trong… nước biển. Thật vậy, nước biển chứa một thành phần gọi là deuterium – hydrogen với một neuron dư ra. Khi hai nguyên tử deuterium bị đẩy sát nhau, chúng sẽ hợp nhất thành một nguyên tử và quá trình này tạo ra nhiều năng lượng. Nhưng quá trình này chỉ có thể tiến hành trong điều kiện xấp xỉ… 13.000.0000C (giống như trên mặt trời!) và nhờ những thiết bị phức tạp trị giá hàng tỉ đôla.

Cuối những năm 1980, hai nhà hoá học Slanley Pons (đại học Utah – Mỹ) và Martin Fleischmann (đại học Southampton – Anh) đã mơ mộng làm được điều trên. Năm 1989, nhiều tờ báo lớn giật tít thông báo bộ đôi Pons – Fleischmann tổng hợp được hạt nhân ở nhiệt độ phòng, hay gọi là “tổng hợp hạt nhân lạnh”, bằng những thiết bị rất đơn giản: khi cho dòng điện 6V đi qua hai điện cực palladium và platinum cắm trong một bình nước biển, họ biến deuterium thành tritium, và phản ứng phát ra nhiều neutron cũng như nhiệt lượng. Lặp lại thí nghiệm này nhiều lần, Pons và Fleischmann đều chứng minh được năng lượng phát ra gấp bốn lần năng lượng nạp vào. Như thế với lượng deuterium trong 1 tấn nước biển, người ta sẽ có được năng lượng tương đương… 300 tấn dầu mỏ!

Sau khi Pons và Fleischmann công bố phát minh, hàng trăm phòng thí nghiệm trên thế giới thử lặp lại thí nghiệm, nhưng tất cả đều công cốc. Trước sức ép của giới khoa học, Pons và Fleischmann phải “biểu diễn” lần nữa và lần này… thất bại. Nhiều câu hỏi được đặt ra, trong đó người ta nghi ngờ về những trang thiết bị của thí nghiệm đầu tiên và tác giả đã gian dối hoặc nhầm lẫn trong giải thích. Nhưng vấn đề không chỉ như thế, chỉ trích lớn nhất của giới khoa học cho “phát minh” này chính là việc các tác giả đã bỏ qua việc công bố nghiên cứu trên các tạp chí bình duyệt khoa học. Trong thực tế, Pons và Fleischmann cũng đã gửi bài báo cho tờ Journal of Electroanalytical Chemistry. Nhưng thay vì chờ ý kiến phản hồi từ giới khoa học như thông lệ, tác giả vội vàng tổ chức họp báo để công bố “phát minh”. Điều này được xem là phi đạo đức và “có động cơ thương mại”.

Đủ kiểu gian lận

Năm 1968, Franz J. Ingelfinger, biên tập viên tờ New England Journal of Medicine (NEJM), quyết định ông sẽ không đăng bất kỳ nghiên cứu khoa học nào nếu những chi tiết và dữ liệu quan trọng của nó đã được công bố trên một tạp chí khoa học khác hay trên báo phổ thông. Người kế thừa Ingelfinger, Arnold Relman, đi xa hơn. Ông muốn các bài đăng trên tạp chí khoa học phải đạt độ tin cậy cao nhất bằng một quy trình bình duyệt chặt chẽ từ giới khoa học. Đề xuất của Relman được mọi người nhất trí và từ đó, mọi tạp chí khoa học đều làm cách này.

Thế nhưng, bất chấp hàng rào kiên cố trên, người ta vẫn chứng kiến nhiều vụ “lọt lưới” trên các tạp chí khoa học. Năm 2005, tạp chí Science công bố nghiên cứu của GS Hwang Woo-suk (Hàn Quốc): tạo được phôi từ tế bào da của 11 bệnh nhân hiến tạng và trứng người tình nguyện. Khi ấy cả thế giới xôn xao vì từ đây ác mộng về các bệnh ung thư, di truyền, tự miễn (lupus, thấp khớp), tim mạch sẽ bị đẩy lùi. Tuy nhiên, không lâu sau đó người ta mới biết đây chỉ là “trò lừa bịp”: các bức ảnh đăng trên tờ Science hoàn toàn là giả tạo, được “nhào nặn” từ hai cụm tế bào chứ không phải 11 cụm như Hwang công bố. Trong nghiên cứu khoa học, việc làm của Hwang được gọi là cực kỳ vô đạo đức.

Khác với Hwang Woo-suk, TS vật lý người Đức Jan Hendrick Schön, có hành vi “sản xuất dữ liệu”. Năm 2001, ông được trao nhiều giải thưởng danh giá và có thành tích làm việc ít người bì kịp: trung bình tám ngày công bố một nghiên cứu mới! Lĩnh vực nghiên cứu chính của Schön là vật lý môi trường, công nghệ nano, đặc biệt ông quan tâm đến việc sử dụng chất hữu cơ tinh thể để thay thế các thành phần bán dẫn quy ước (như silicon). Nhiều nghiên cứu của ông được đăng trên các tạp chí hàng đầu như Science hay Nature. Nhưng một ngày nọ có người phát hiện trong một bài báo khoa học, Schön đã sử dụng hai đồ thị giống nhau để mô tả hai chất liệu khác nhau. Năm 2002, người ta mở cuộc điều tra, xem xét lại những dữ liệu nghiên cứu trước đây và phát hiện ít nhất 16 hành vi sai trái của Schön. Chẳng hạn với cùng một dữ liệu ông đã “chế biến” cho nhiều thực nghiệm khác nhau. Thậm chí để có sơ đồ minh hoạ ông dùng kỹ thuật tính toán nghĩ ra chứ không xuất phát từ thực nghiệm. Năm 2004, đại học Konstanz (Đức) thu hồi bằng tiến sĩ của Schön vì xem ông đã làm một chuyện “đáng hổ thẹn”.

Gian lận khoa học nhiều hay ít?

Sai trái của Hwang Woo-suk và Jan Hendrick Schön không có gì bào chữa vì họ đã bị “bắt tận tay day tận trán” với bằng chứng rõ ràng. Trong thực tế, những kiểu gian lận “nhẹ nhàng” hơn như đạo văn, ăn gian hoặc sản xuất số liệu ở mức độ nào đó khó bị phát hiện trừ phi chính người trong cuộc thừa nhận. Trong một khảo sát trên 2.000 thành viên khoa và 2.000 sinh viên khoa học thuộc 99 trường đại học của Mỹ, G.S Judith P. Swazey và cộng sự phát hiện 44% sinh viên và 50% thành viên khoa đã biết ít nhất hai dạng sai trái trong khoa học, 7% họ từng “quan sát” hay “có kiến thức trực tiếp” từ những dữ liệu gian dối của khoa.

Link: http://sgtt.vn/Khoa-giao/Khoa-hoc-va-cong-nghe/161845/BAI-1-Dao-lon-gia-tri-khoa-hoc.html

+ + + + +

Bài 2: Khi truyền thông “tiếp sức” cho nhà khoa học giả hiệu

Do áp lực chạy đua thông tin, nếu không đủ tỉnh táo và trang bị tốt kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cần thiết, giới truyền thông có thể vô tình trở thành “cộng tác viên” của “nhà khoa học giả hiệu” trong việc truyền bá “thứ khoa học xấu xí”. Truyền thông thế giới và Việt Nam đã chứng kiến không ít bài học như thế.

Vụ án MMR và bệnh tự kỷ

Năm 1998, Andrew Wakefield khiến hàng triệu phụ huynh trên thế giới hốt hoảng khi cho rằng MMR (vắcxin ngừa sởi, quai bị và Rubella) có liên quan đến bệnh tự kỷ. Trong một bài đăng trên tạp chí khoa học Lancet, bác sĩ người Anh này cho biết trong 12 trường hợp chích ngừa vắcxin MMR, có đến tám trường hợp phát bệnh tự kỷ sau đó!

Ngay sau khi nghiên cứu được công bố, hàng loạt phương tiện truyền thông đại chúng vào cuộc thông tin về mối liên hệ nhân quả trên, không ai mảy may nghi ngờ về giá trị của phát hiện vì nó được đăng trên một tạp chí quá danh tiếng. Hậu quả là phong trào chích ngừa rớt thê thảm (tại Anh tỷ lệ chích MMR từ 94% chỉ còn 75%), đồng thời dịch sởi bùng phát ở nhiều nước châu Âu.

Tuy nhiên nhiều nghiên cứu sau đó đã bác bỏ kết quả nghiên cứu của Wakefield. Giới hữu quan tiến hành điều tra và phát hiện “nhà khoa học” đã “xào nấu số liệu” để cho kết quả như ý muốn của mình. Ngoài vi phạm đạo đức nghiêm trọng này, ông còn phạm phải “xung đột lợi ích” khi nhận một số trẻ để nghiên cứu từ một luật sư chuẩn bị hồ sơ kiện các hãng sản xuất MMR và bản thân cũng bỏ túi 400.000 bảng Anh từ các luật sư chống MMR. Năm qua, Wakefield bị tước quyền hành nghề y tại Anh và phải tủi hổ bỏ ra nước ngoài sinh sống.

Về góc độ khoa học, hành động gian dối của Wakefield không thể bào chữa, thế nhưng một số nghiên cứu xã hội học sau đó cho thấy nếu giới truyền thông không “tiếp sức” cho nhà khoa học giả hiệu, hậu quả có thể không quá nghiêm trọng (cho đến nay nhiều phụ huynh Anh vẫn từ chối cho trẻ chích ngừa!) Trong bài báo đăng trên tạp chí Vaccine năm 2003, Paul A. Offit và Susan

E. Coffin cho rằng giới báo chí khoa học chưa phân biệt được “nhân quả” và “ngẫu nhiên”. Để xác định chích MMR có liên hệ nhân quả với bệnh tự kỷ hay không thì phải biết nguy cơ bị MMR trong nhóm chích vắcxin và so sánh với nguy cơ bị MMR trong nhóm không chích vắcxin. Về nghiên cứu của Wakefield, báo chí cho rằng có yếu tố nhân quả là quá vội vàng.

Báo chí khoa học thiếu… khoa học

Những năm qua nước ta cũng có không ít bài học về truyền thông khoa học. Cách đây vài năm, thông tin về việc bưởi gây ung thư hoặc sự tương kỵ chết người của một số thực phẩm nếu dùng chung, đăng tải trên một số tờ báo chính thống, đã khiến nhiều người sốt vó cho dù những điều này xuất phát từ truyền miệng chứ không từ bất kỳ nghiên cứu nghiêm túc nào. Năm qua, thông tin nước ozone trị được bệnh tay chân miệng cũng khiến không ít người dân tin tưởng. Đáng tiếc là khi đăng tải thông tin này, giới truyền thông lại không đặt câu hỏi liệu pháp chữa bệnh đó có được khoa học công nhận hoặc giới hữu quan (bộ Y tế) cho phép áp dụng hay chưa.

Trong thực tế, không chỉ ở Việt Nam, mà ngay cả ở nhiều nước tiên tiến, nhà báo khoa học cũng phạm phải những sai sót về nghiệp vụ như đặt trọn niềm tin vào các nhà khoa học tên tuổi (những người này nói luôn đúng!), hiểu không đủ về quy trình nghiên cứu khoa học (nghiên cứu chỉ có giá trị khi được công bố trên tạp chí bình duyệt), thiếu hiểu biết về chuyên ngành mình đang phụ trách. Trong một khảo sát trên 148 nhà báo y tế tại 37 quốc gia châu Âu đăng trên tạp chí Health Expectations vào năm 2003, Anna Larsson và cộng sự nhận ra nguyên nhân khiến thông tin y học bị sai lệch hay bóp méo nhìn từ phía thực hành báo chí: đó là các nhà báo thừa nhận họ bị sức ép về thời gian, thiếu kiến thức, cạnh tranh độc giả, không tìm được nguồn phát ngôn và áp lực về tính thương mại của báo chí.

Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu truyền thông cho rằng chính phong cách làm báo của báo chí phổ thông đã vô hình trung tạo kẽ hở cho khoa học xấu xí xuất hiện. Arnold Relman, biên tập viên tờ New England Journal of Medicine, nói: “Giới truyền thông nói chung thường quan tâm đến câu chuyện, tính thông tin hơn là sự thật khoa học”. Điển hình cho điều này là cách làm của đài truyền hình Mỹ CBS về vắcxin MMR ở thành phố Evans, bang Pennsylvania. Trong đoạn phóng sự phát đi, biên tập viên dẫn lời: “Cho đến năm một tuổi Nicholas là một đứa bé hoàn toàn bình thường, nhưng sau khi được chích MMR thì cha mẹ bé thừa nhận bé bắt đầu thay đổi”. Sau lời giới thiệu này là hình ảnh cha mẹ bé Nicholas ôm con vào lòng và… khóc sướt mướt. Với cách thông tin như thế, người xem thật khó phủ nhận mối liên hệ nhân quả giữa chích MMR và bệnh tự kỷ. Tương tự thế, khi dịch tay chân miệng bùng phát ở Ninh Thuận năm qua, không ít tờ báo dẫn lời phụ huynh khẳng định sau khi bôi nước ozone lên người thì bệnh nhi khỏi bệnh. Sự thật thế nào? Bác sĩ Trương Hữu Khanh, một chuyên gia về bệnh nhiễm nhi, nói: “Đối với bệnh tay chân miệng thể nhẹ, dù không điều trị bệnh nhân cũng tự lành bệnh!”

BÁO CHÍ CŨNG GÓP PHẦN VẠCH MẶT NHÀ KHOA HỌC GIẢ HIỆU

Năm 1980, các phóng viên của tờ Boston Globe đã điều tra thành công trường hợp bác sĩ Marc J. Strauss của bệnh viện Boston đánh tráo số liệu để cho rằng mình thành công trong một phương pháp điều trị ung thư vú. Trong vụ việc MMR, sau thời gian đầu “tung hô” Andrew Wakefield, báo chí phổ thông Anh chuyển sang “nghi ngờ” và phát hiện những vi phạm “xung đột lợi ích” của bác sĩ này. Công đầu thuộc về tờ Sunday Times.

Link: http://sgtt.vn/Khoa-giao/161953/Bai-2-Khi-truyen-thong-%E2%80%9Ctiep-suc%E2%80%9D-cho-nha-khoa-hoc-gia-hieu.html

+ + + + +

Bài cuối: Đi tìm rào cản chặn “hàng giả”

Thật ảo tưởng nếu cho rằng có thể loại trừ vĩnh viễn được nhà khoa học giả hiệu và thứ khoa học xấu xí. Tuy nhiên, với những công cụ minh bạch và công khai, người ta hy vọng sẽ gạt bỏ đáng kể những giá trị không chân chính ra khỏi ngôi thánh đường khoa học.

Cần để tạp chí bình duyệt sàng lọc

Cho dù vẫn để lọt không ít nghiên cứu dỏm ra ngoài công chúng, song đến nay tạp chí bình duyệt khoa học vẫn được xem là một trong những rào cản hiệu quả đối với cái xấu. Đáng tiếc là khoa học nước ta chưa mạnh mẽ đi theo con đường này. Một khảo sát cho thấy trong cả năm 2007, hai đại học Quốc gia Hà Nội, TP.HCM chỉ công bố được 52 bài báo trên các tạp chí khoa học thế giới. Cùng thời gian này, viện Khoa học và công nghệ Việt Nam công bố 44 bài báo. Như thế, trong năm đó cả nước có chưa đầy 100 bài báo khoa học tiếp cận với thế giới, thua xa đại học Mahidol (Thái Lan) với 950 bài, hay đại học Philippines với 220 bài.

Thật lạ là hàng năm số đề tài nghiên cứu ra đời trong nước có thể lên đến hàng chục ngàn, xuất phát từ những phong trào nghiên cứu ở các trường đại học, trung tâm nghiên cứu và chúng được công bố trên các tạp chí khoa học trong nước (có ý kiến cho rằng hệ thống bình duyệt không chặt chẽ như nước ngoài) hoặc hội nghị khoa học đủ lĩnh vực. Vì sao có sự khác biệt lớn như thế? Có người cho rằng vì năng lực tiếng Anh của các nhà khoa học Việt Nam còn hạn chế, nhưng cũng có ý kiến khác: tác giả ngại công bố vì sợ đồng nghiệp phát hiện cái sai trong nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, một nghiên cứu khoa học chỉ được xem là hoàn tất khi nó được công bố trên tạp chí bình duyệt.

Nhưng cũng có tín hiệu vui cho thấy khoa học Việt Nam đang cố gắng hoà nhập với thế giới. Chẳng hạn thời gian qua trung tâm Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực – đại học Quốc gia TP.HCM đã liên kết với những nhà khoa học nước ngoài mở nhiều lớp huấn luyện kỹ năng nghiên cứu. Qua những hoạt động này, hy vọng người trẻ sẽ dấn thân vào nghiên cứu khoa học nhiều hơn để có những công trình tốt công bố với thế giới. Dĩ nhiên, những nỗ lực như thế cần sự tiếp sức từ nhà hoạch định chính sách và giới quản lý.

Xây dựng một nền báo chí khoa học mạnh

Tại đại hội Liên đoàn nhà báo khoa học thế giới năm qua ở Qatar, ban tổ chức đã bỏ một buổi chia sẻ kiến thức và kỹ năng viết khoa học cho hàng trăm nhà báo đến từ khắp nơi trên thế giới. Thật lạ khi những nội dung chia sẻ không mới lạ: “Làm thế nào để đọc một nghiên cứu y học?”, “Báo chí và PR”, “Ai nói khoa học cho công chúng?” Hỏi một thành viên ban tổ chức vì sao phải làm chuyện này, người viết nhận được trả lời: “Trong thời đại khoa học tác động nhiều đến con người như hiện nay, những nhà báo khoa học cần được nhắc lại những kiến thức căn bản và cập nhật kiến thức mới, bởi họ là “diễn viên chính” trong việc đưa khoa học đến công chúng”.

Tại Việt Nam, những năm qua báo chí khoa học có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển khoa học nước nhà và nâng cao nhận thức của người dân về những vấn đề sức khoẻ (dịch bệnh, thực phẩm chức năng), môi trường (ô nhiễm, biến đổi khí hậu), nghiên cứu (sao chép nghiên cứu, phát minh dỏm). Tuy nhiên, bên cạnh thành công này, truyền thông khoa học trong nước cũng tạo ra những sự cố đáng tiếc khiến xã hội hoang mang, gây thiệt hại cho sản xuất hoặc con người. Những vụ việc như nước tương chứa 3 – MCPD, sữa nhiễm melamine hay trẻ tử vong sau chích ngừa là minh chứng.

Trả lời báo chí cách đây vài năm, nhà khoa học Nguyễn Văn Tuấn cho rằng giới truyền thông khoa học Việt Nam “cần đóng vai trò phản biện các nghiên cứu một cách tích cực hơn”. Theo ông, người phóng viên khoa học phải “hoài nghi, hoài nghi và hoài nghi… Cần phải kiểm tra xem kết quả nghiên cứu có khả năng thực tế hay không. Cần phải áp dụng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt trong suy luận khoa học để thẩm định mối liên hệ giữa nhà khoa học, trung tâm nghiên cứu, và cơ quan tài trợ cho nghiên cứu” (1). Đóng vai trò “canh cửa”, thay vì “cổ suý”, đó cũng là tinh thần mà mọi xã hội ngày nay đòi hỏi ở báo chí khoa học. Nhà nghiên cứu báo chí khoa học Dorothy Nelkin từng viết: “Trong khi nghệ thuật, sân khấu, âm nhạc, văn chương thường xuyên là đối tượng để phê bình, thì khoa học và công nghệ hầu như được tha thứ – cho đến khi những sự cố vô đạo đức xảy ra. Nhiều nhà truyền thông hiện nay đóng vai trò bán lẻ khoa học và công nghệ thay vì điều tra chúng, nhận diện nguồn thông tin thay vì thách thức chúng” (2).

Những năm qua, trong nước đã có một số hoạt động nhằm nâng chất truyền thông khoa học như các khoá huấn luyện viết khoa học do bộ Khoa học và công nghệ hoặc các dự án phi chính phủ thực hiện. Trong năm nay, bộ Khoa học và công nghệ cũng lần đầu tiên xét tặng giải thưởng Báo chí về khoa học và công nghệ. Hy vọng những hoạt động này sẽ góp phần xây dựng một nền báo chí khoa học đủ mạnh, giúp phát triển nền khoa học nước nhà.

(1) Báo Bưu Điện, tháng 3.2008

(2) Selling science, how the press covers science and technology,
NXB W.H. Freeman and Company.

GS.TS vật lý Nguyễn Văn Trọng: “Phải có quý tộc văn hoá và môi trường khoa học”.

Dường như trong quá khứ giới khoa học có vẻ trong sạch hơn. Thế kỷ 19 chẳng hạn, rất ít những trường hợp gian dối khoa học vì lúc đó những người đi làm khoa học ở một giai tầng mà tiền bạc không phải là chuyện cấp bách; với họ, làm khoa học là động cơ cần thiết về văn hoá. Hiện nay những bê bối trong khoa học không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà xảy ra ở cả những nước phát triển. Lý do là đã mất văn hoá quý tộc ấy rồi. Nền dân chủ thay thế đã cào bằng mọi thứ. Tuy nhiên, bất bình đẳng văn hoá lại là điều cần thiết. Phải có ngôi thứ về văn hoá và khi đó, thầy ra thầy, trò ra trò. Người thầy được kính trọng phải giữ tư thế của mình, là người truyền bí mật nghề nghiệp cho người trò. Còn bây giờ, hiểu theo kinh tế học, hoá ra ông thầy chỉ làm dịch vụ, cung cấp tri thức cho người học trò bỏ tiền ra mua dịch vụ đó. Đây là quan hệ mua bán bình đẳng, không có thứ bậc của người thầy và người trò nữa. Khi không còn ngôi thứ, người thầy không còn được kính trọng nữa. Vì vậy, không có quý tộc về kinh tế nhưng phải có quý tộc về văn hoá, quan trọng nhất là phải có môi trường khoa học.

GS.TS Trần Đại Phúc, chuyên gia cấp cao công nghệ hạt nhân: “Đào tạo nhà khoa học phải bắt đầu từ tiểu học”.

Để có một nhà khoa học chân chính, phải có những bước chuẩn bị sau: người trẻ được đào tạo bài bản trong nhà trường, từ tiểu học cho đến đại học, từ sự hướng dẫn của các giáo sư tâm huyết, có kiến thức, có thiện ý trao đổi hiểu biết. Bên cạnh đó, những giáo sư tài năng thực sự phải được cấp lương bổng một cách xứng đáng; nhà trường và đại học phải có đầy đủ trang bị liên quan đến các chuyên nghề để học sinh, sinh viên, người nghiên cứu thực tập; phải có các trung tâm nghiên cứu và tạo đủ điều kiện thích hợp, với những đề tài khảo cứu liên quan đến sự phát triển cụ thể của từng ngành công nghệ hiện đại và hữu ích với Việt Nam.

Link: http://sgtt.vn/Khoa-giao/Khoa-hoc-va-cong-nghe/161986/Bai-cuoi-Di-tim-rao-can-chan-%E2%80%9Chang-gia%E2%80%9D.html

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: