Tại sao bằng cấp cao hơn, văn hoá lại ‘lùn’ đi? – Lê Đỗ Huy

Vì sao xã hội hôm nay được xem là có bằng cấp cao hơn một xã hội Việt Nam chỉ có 5% biết chữ trước kia, nhưng lại có văn hoá “lùn đi” (tỉ lệ phạm tội, số vụ trọng án trong giới trẻ ngày một cao hơn …), và lớp trẻ bị xem là đang sống vô hồn hơn?

Khi uy tín là…

Những nhà giàu chiều con vô độ, bé thì đánh osin, lớn lên dùng vũ lực để đạt mục tiêu, đều được cha mẹ xử êm bằng tiền, nếu có hệ lụy. Lớn lên, có cậu ấm thuê côn đồ giải quyết tranh chấp ngay trong trường.
Cũng có con nhà nghèo muốn lấp khoảng cách giàu nghèo ngày một sâu thẳm hôm nay bằng bạo lực, hoặc gặp cảnh cùng quẫn phải phạm pháp.
Lảng vảng những bầy đàn ma giáo, ma cô tìm mọi cách xô đẩy đầu xanh vào vòng nghiện ngập, sa đọa. Các đầu gấu như có sức “cuốn hút” hơn, nhiều kẻ theo đóm ăn tàn đang lao vào vòng xoáy một lối sống không làm ra bao nhiêu, nhưng ăn tàn phá hại. Thói quen ăn nhậu giúp tạo ra các “hội”, trước mắt bênh vực nhau trong các va chạm trong sinh hoạt cộng đồng, rồi đến các tranh chấp dân sự…. Về lâu dài, hình thành một thứ lực lượng hậu bị cho các băng nhóm “giang hồ đời mới”.

Đang ngấm ngầm một quan niệm, kể cả trong một số người có tuổi, rằng để sống được hôm nay, cần biết cả cách vi phạm “nhẹ” một số chuẩn mực về pháp lý, đạo đức và các giá trị dân sự, và tuân thủ luật chơi “phường hội”?

Nỗi oan Thị Kính đang bước ra ngoài trang văn học. Những Năm Sài Gòn đời mới cấu kết với “ông cò”. Để loại bỏ doanh nghiệp cạnh tranh, chuyện ai đó thuê côn đồ đánh người chồng thành thương, rồi đâm xe cướp mạng sống người vợ sẽ không gây quá ngạc nhiên hay căm phẫn (?).

Nhiều lúc thấy những tình cảnh đã “hình sự” lắm, nhưng rồi các cơ quan chức năng chỉ vào cuộc khi đã có … tử thi. Người dân vẫn e rằng cách xử án của các vụ Lê Văn Luyện, vụ đốt nhà báo… đã xử đúng, xử hết tội phạm? Ở hiền liệu có gặp lành, xử thế độc ác có bị xử án đích đáng? Những hồi chuông báo động sẽ chẳng thấu tai ai?

Tham khảo

Năm vừa rồi, chúng ta đã kinh ngạc vì người dân Nhật, chịu không biết bao nhiêu tai ách dồn dập, cả khách quan lẫn chủ quan, vẫn không hề oán hận, nổi khùng.

Tấm gương đùm bọc, tôn trọng đạo lý và pháp luật trong đại nạn của người Nhật làm cả thế giới khâm phục. Một đồng nghiệp của tôi có cơ hội được hỏi một người Nhật là dân xứ hoa đào được giáo dục bởi những giá trị nào?

Câu trả lời không hề chứa những khái niệm sành điệu như “kỹ năng sống”, mà chỉ là: kính già, nhường trẻ, làm điều thiện, tránh điều ác, trung thực, dũng cảm… Không lẽ các thế hệ người Việt không từng được giáo dục như thế?

Nhưng Nhật Bản và cả Hàn quốc hẳn vẫn là những tấm gương gìn giữ gia phong, truyền thống trong trào lưu Tây hóa. Vậy hẳn là họ vẫn không ngừng thay đổi, và kiến tạo trên nền truyền thống những giá trị mới để phát triển.

Sự khác biệt của bộ máy tam quyền phân lập với cách hình thái xã hội khác là hệ thống chấp pháp –  tòa án hoạt động độc lập.

Vì thế với các nước phương tây, pháp luật gần như là sự công bằng. Còn với người dân của xã hội truyền thống Khổng giáo, và cả với hình thái xã hội cận xô viết, xét xử vẫn phải có tình, có lý. Công lý không thể xa vời khỏi luân thường, đạo lý. Xử lý va chạm về giao thông ở phương Tây hoàn toàn là việc của cảnh sát, còn ở Việt Nam, vẫn có thể khuyến khích hai bên hoà giải, tự dàn xếp.

Để song hành đạo lý Á Đông và hệ thống pháp lý kiểu phương Tây, “trái tim nóng, đầu lạnh, tay sạch” hẳn vẫn giúp kiến tạo hệ thống giá trị mới cho một xã hội thuần nông trên đường chuyển đổi nền kinh tế, khó hội đủ đức – tài đối phó với mặt trái của xã hội tiêu thụ.

Các kỹ năng sống của cậu bé mũi dài Buratinô chống Mèo mù, Cáo thọt hôm nay vẫn có thể nhập khẩu để tham khảo. Nhưng sự phúc hậu, và tinh thần khắc phục khó khăn, thấm đẫm huyết quản Việt bao đời, chẳng hạn, không thể để cho mai một, bởi tâm lý hưởng lạc và một lối sống ma giáo, thói làm luật…

Hiền dữ đâu phải vì tính sẵn

Từ xưa có lệ họp đại gia đình “đóng cửa bảo nhau”. Thời bao cấp, mỗi người đều thuộc một đoàn thể xã hội nào đó, và đều có thể được Hội, Đoàn, Đội… của mình nhắc nhở, thường không đao to búa lớn, về những lệch lạc mới chớm, trong mắt cộng đồng. Hôm nay, đã vang dội hơn những phàn nàn rằng sự tắc trách kiểu “trọng cung hơn trọng chứng”, và những tiêu cực, đang làm một số kẻ sát nhân thoát tội, và đẩy cả những người lương thiện vào tù.

Trong định hướng tiền xanh, bạc tệ, ông bà vẫn thủ thỉ, “đừng xanh như lá, bạc như vôi”… Cha anh nhắc lại vai trò Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên một thời hoa lửa.

Mỗi lần đi qua những toà Học viện thanh niên, Trường Đội… hoành tráng, tôi cảm thấy chúng như thứ “thảm bay” bồng bềnh, chỉ giúp ai đó thượng đài danh vọng.

Dính lấy “nền cũ lâu đài” về phương pháp, mất sinh khí, chúng không kiếm được chỗ đứng trong lòng thanh thiều niên, nhi đồng, không còn là người hướng dẫn, người bảo vệ cho tuổi đầu xanh. (Phản) văn hoá “băng nhóm” đang lấn át văn hoá của đoàn thể quần chúng.

Công nghệ giáo dục Việt không thể chỉ là những điều răn kiểu: “không được đánh bạn”, “không được đánh học trò”. Mà phải làm sao để trẻ em (sẽ thành người lớn về sau) không nghĩ đến việc dùng bạo lực như một công cụ để giải quyết tranh chấp, càng không phải là công cụ để “thể hiện mình”, hay tệ hơn, để (đánh học trò, đánh bạn) để xả stress.

Muốn vậy không nên chỉ hô hào: “dùng sức mạnh của hệ thống chính trị”, mà, ít nhất, cần không để các tổ chức đoàn thanh niên, đội thiếu niên biến thành những “thánh đường” chỉ thu hút được những ai ưa “bề nổi”, và cả những “sư hổ mang”… Cần khởi động lại những cơ chế một thời đã khiến các đội viên thiếu niên, đoàn viên thanh niên thực sự, không chỉ không đánh nhau, mà còn biết đoàn kết các bạn. Để gương mẫu, chứ không phải là “đầu gấu”, mới là uy tín trong thanh thiếu niên.

Lê Đỗ Huy

Link: http://www.baomoi.com/Home/PhapLuat/vietnamnet.vn/Tai-sao-bang-cap-cao-hon-van-hoa-lai-lun-di/8187409.epi

+ + + + +

Tại sao trong xã hội ta, mọi thứ bằng cấp đều cao lên nhưng văn hóa lại lùn đi?

Nguyễn Hoàng Lê

Thư của tác giả Nguyễn Hoàng Lê:
Kính gửi TS Nguyễn Xuân Diện,
Tôi là một nhà giáo sắp về hưu, dạy học ở Trường Khoa học Xã hội Nhân văn mà TS đã từng học trước đây. Sáng nay tôi thấy trên Vietnam Net có một bài của ông Đỗ Huy  đưa ra một vấn đề rất hay để thảo luận là: Tại sao bằng cấp trong xã hội ta hiện nay thì cao mà văn hóa lại đang lùn đi. Tôi muốn tham gia thảo luận nhưng tờ tin này chỉ muốn xem phản hồi, không thảo luận. Tôi vẫn thường xuyên theo dõi Nguyễn Xuân Diện blog và thấy phần lớn những đọc giả của blog này là trí thức, nếu đưa vấn đề này ra thảo luận có thể có ích cho xã hội. Tôi xin nêu ý kiến của mình trước để Lâm Khang Tiên sinh đọc qua, nếu thấy được thì đưa lên trang của anh để mọi người cùng chiêm nghiệm. Chúc anh sức khỏe!
Nguyễn Hoàng Lê
Tôi lớn lên dưới thời bom đạn ở miền Bắc. Giờ đây tôi đã gần 60 tuổi, làm nghiên cứu khoa học và giảng dạy nên có điều kiện đi đây đó, tiếp xúc đủ hạng người, từ cao sang đến thấp hèn, từ lao động chân tay đến các bậc đại trí thức, từ Đông sang Tây. Nhiều bạn bè quốc tế thường hay hỏi tôi về cuộc sống mà tôi đã trải nghiệm trong thời chiến tranh. Đối với sự tưởng tượng của họ thì đó phải là những ngày đen tối và cuộc sống chỉ tràn ngập thương đau. Nhưng họ ngạc nhiên khi đối với tôi, tất cả những gì còn đọng lại trong ký ức của tôi về những ngày sống trong đói khổ tang tóc ấy không phải là sự vô cảm hay nổi loạn để giành giật sự sống mà là sự bừng sáng của tình người.
Tôi không thể nào quên người ta đã chia sẻ cho nhau mọi thứ mà họ có trên đời, từ những miếng ăn giản dị đời thường đến những điều quý giá nhất, sẻ chia tâm tình để động viên nhau vượt qua thời gian khó. Tôi có cảm giác như ngày ấy, con người sống cho nhau, sống vì nhau, và họ dường như đã quên đi cái tôi tầm thường ích kỷ, sẵn sàng hy sinh cho nhau, và tâm niệm chỉ sống bằng sự chân thành và lòng vị tha. Con cháu tôi hôm nay không thích nghe kể về những ngày ấy, vì đối với chúng, tôi đã sớm già nua và thích chuyện cổ tích. Thật khó để chúng tin rằng đã có thời cha ông chúng sống một cuộc sống như trong các câu chuyện cổ tích vậy. Nhưng đáng buồn hơn là vẫn có đó khoảng 1/3 dân số chúng ta hôm nay đã lớn lên trong những năm tháng cổ tích ấy. Vậy mà họ dường như cũng đã chóng quên rằng, tình người, nghĩa cả, và lòng vị tha đã từng tồn tại trên đất nước này, trong chính những ngày đen tối nhất của chiến tranh. Nhiều người trong số họ, chủ yếu những kẻ có địa vị xã hội và mức sống ở thang bậc cao, lại đang trở thành tấm gương cho con cháu về lối sống thực dụng, vô cảm, ích kỷ, dối trá và tham lam vô độ. Nhiều người trong số ấy thích đổ lỗi cho nền giáo dục mà quên đi rằng hệ thống giáo dục cũng chỉ là một phần trong cái hệ thống xã hội mà chúng ta đang sống mà thôi. Những người khác lại thích đổ lỗi cho nền kinh tế thị trường, cho lối sống gấp của chủ nghĩa tư bản giẫy chết tác động đến lớp trẻ hôm nay. Chúng ta không có thói quen tự phán xét mình, mỗi khi khó khăn, thường tìm nguyên nhân ở bên ngoài, còn tự cho mình “về bản chất là tốt”, chỉ vì “tiêm nhiễm” lối sống xấu xa từ bên ngoài. Đổ lỗi, hay như một thuật ngữ mà người trẻ hiện nay thích dùng, là “chuyền bóng cho người khác”. Điều này đã trở thành một nét văn hóa ứng xử phổ thông, hay một “tập tính” mới hình thành mấy thập kỷ qua, cả trong đời thường lẫn trong văn hóa chính trị ở đất nước này.
Ông Lê Đỗ Huy trong bài viết trên VietnamNet (2/4/2012) đã đặt ra một câu hỏi rất đúng rằng tại sao trong xã hội ta hiện nay, mọi thứ bằng cấp đều cao lên nhưng văn hóa lại lùn đi? Tôi rất đồng cảm với suy nghĩ của ông, rằng hiện tượng suy đồi đạo đức trong xã hội ta hôm nay không chỉ nằm ở nền giáo dục hay ở hành vi ứng xử của mỗi cá nhân mà phải đi tìm nguyên nhân ở chính trong hệ thống xã hội của chúng ta, trong cái nền dân chủ ngàn vạn lần hơn này, nó đã phát tán ra những chất xúc tác gì làm cho con người trở nên suy đồi về đạo đức? Để tham gia vào cuộc thảo luận do ông Đỗ Huy khởi xướng, tôi xin kể lại câu chuyện mà tôi đã tham gia hai tuần trước, vừa với tư cách là người trong cuộc, vừa là chứng nhân, như một chiêm nghiệm cho những quan sát của tôi về đạo đức và tình người trong xã hội ta.
Tôi và một đồng nghiệp, đồng thời là lãnh đạo một trường đại học hàng đầu của đất nước, cùng tham gia một cuộc họp quan trọng ở Đại học Chulalongkorn, Thailand vào giữa tháng Ba vừa qua. Tôi đi chuyến bay sớm, còn anh ấy bận họp hành nên đi chuyến bay tối. Nhưng trong lúc vội vã ra sân bay, anh ấy đã cầm nhầm hộ chiếu, và không kịp đi chuyến bay đã mua vé. Gọi điện cho vợ mang hộ chiếu ra sân bay, anh đăng ký chuyến bay đêm duy nhất sang Bangkok. Vì đã gần nửa đêm, mà hôm sau lại là cuối tuần nên anh hỏi chị có đi sang Bangkok luôn không, chị vợ đồng ý đi cùng chồng trên một chuyến bay mà không kịp chuẩn bị tư trang và tâm thế. Họ đến Bangkok nửa đêm về sáng khi trong túi chỉ có một ít đồng Baht còn sót lại trong chuyến công tác của anh lần trước. Họ cũng không thấy có khó khó khăn gì, ngược lại vui như đang tung tăng trên phố Hà Nội mà chẳng phải lo ngay ngáy vì bọn cướp giật, móc túi, hay bị cảnh sát cơ động khám xét khi đi chơi đêm quá khuya.
Sáng hôm sau, khi gặp nhau, chị vợ hỏi vay tôi ít tiền để tung tăng siêu thị mua sắm mấy thứ đồ dùng trong lúc anh chồng dự họp. Chị chẳng mua gì nhiều ngoài mấy thứ cần thiết nên số tiền tôi cho vay vẫn chưa cần đến, chị cất ở túi xách. Chiều tối hôm sau hai người ra sân bay để về Hà Nội vì anh phải dự một cuộc họp quan trọng ở trường, còn tôi ở lại Bangkok họp tiếp. Khi ra sân bay, chị đi chuyến bay sớm hơn bằng vé khứ hồi hôm trước, còn anh chờ chuyến sau bằng cái vé khứ hồi mà anh chưa dùng trong chuyến đi từ Hà Nội. Không may, khi làm thủ tục bay thì anh mới biết quy định của hãng Thai Airways là mua vé khứ hồi nhưng không sử dụng chuyến đi thì chuyến về cũng không còn giá trị. Anh ngậm bồ hòn làm ngọt, lặng lẽ ra quầy mua chuyến bay khác để về Hà Nội. Oái oăm thay, khi lục túi thì chỉ còn vài ngàn Baht, không đủ tiền cho loại vé rẻ tiền nhất, trong khi khoản tiền đủ mua vài vé máy bay mà họ vay của tôi thì lại nằm trong túi của vợ, thế mà chị ấy đã vào trong máy bay để về Hà Nội rồi. Trong cơn hoảng loạn, anh gọi điện cho tôi cầu cứu mang tiền ra sân bay ngay để kịp mua vé về chuyến chót trong ngày, mặt khác đi tìm những người Việt Nam ngồi cạnh đang chờ về nước cùng chuyến bay để vay thêm tiền. Một giáo sư, lãnh đạo một đại học lớn nhất nhì cả nước, phải hạ cố vay tiền đã là một sự nỗ lực ghê gớm, nhưng kinh khủng hơn cả là thái độ và cái nhìn lạnh lùng, dửng dưng, khinh khi, coi thường và đầy nghi kỵ bám sát theo từng bước chân anh trong cái nhà ga sân bay choáng lộn tưng bừng nhất khu vực này. Nửa tiếng đồng hồ, bất chấp sự khinh khi lạnh lùng, cố thuyết phục những người đồng hương, rằng anh là người tử tế, anh có địa chỉ tên tuổi đàng hoàng ở cái danh thiếp trang trọng mà anh chìa ra, nhưng đáp lại chỉ là sự vô cảm và những cái lắc đầu đầy ngụ ý đến rợn người. Trong vô vọng đến thất thần vì chỉ còn vài phút nữa thì quầy bán vé “last minutes” sẽ đóng lại, anh ngồi bệt xuống hàng ghế lạnh như băng ở sân bay Bangkok. Bỗng có một cậu thanh niên nhỏ bé tiến lại. Anh ta lễ độ hỏi bằng một thứ tiếng Anh giọng Thái rằng có phải ông đang cần tiền để mua vé về Hà nội không. Bạn tôi đã thú nhận rằng đúng như vậy. Người thanh niên rút ví ra, đếm cả đồng tiền lẻ cuối cùng, đưa tiền cho bạn tôi và nói: “Tôi chỉ là một sinh viên nên không có nhiều tiền, nhưng chắc có ích cho ông trong lúc này”. Người thanh niên ấy nói rằng cậu đã quan sát trong lúc ngồi chờ và thấy rõ mọi việc nên anh không cần phải giải thích gì thêm. Cậu đưa cho bạn tôi số liên lạc, và nói khi nào anh có tiền trả lại thì liên lạc, bằng không thì cứ coi như cậu ấy biếu anh khi lỡ độ đường. Mua được cái vé vào phút chót trước khi quầy đóng lại, bạn tôi mừng khôn xiết, và giữ anh ta lại nói thêm đôi câu chuyện trong lúc chờ tôi đến. Thật may là tôi vừa kịp phóng taxi ra sân bay đúng lúc người thanh niên này phải vào máy bay. Tôi trả lại số tiền anh ta đã đưa cho bạn tôi, và được biết anh ấy đang là sinh viên năm thứ 3 ngành Y Đại học PhuKet ở phía nam Thailand. Anh đến Bangkok nghỉ cuối tuần và đang trên đường về nhà cho kịp buổi học đầu tuần ngày mai. Tôi cũng chẳng kịp nói chuyện với bạn tôi vì giờ vào máy bay đã sắp đến.
Chúng tôi chia tay ở sân bay, nhưng trên chuyến taxi trở về Băngkok, tôi không ngớt suy nghĩ về hành vi giản dị nhưng cao cả của cậu sinh viên Thái. Tôi tin bạn tôi cũng đang suy nghĩ giống tôi, dù giờ này có thể anh đã yên vị trong khoang máy bay hạng bét để về Hà Nội. Tôi cứ miên man đi tìm câu trả lời cho đạo đức và niềm tin của con người vào đồng loại trong xã hội ta hôm nay. Tại sao ở một đất nước tư bản láng giềng, nơi mà chúng ta vẫn thường dạy cho học sinh rằng ở đó đầy rẫy xấu xa và thối nát, rằng ở nơi đó, người ăn thịt người, còn xã hội ta thì vạn lần tươi đẹp hơn trên thế gian này, nhưng hành vi ứng xử của con người ở hai xã hội ấy, mà tôi đã trực tiếp nhìn thấy, thì lại khác nhau xa nhau nhường ấy? Tại sao nhiều người trong chúng ta đã mất đi niềm tin ở tính thiện của con người, ở tinh thần sẻ chia lúc hoạn nạn, khó khăn? Tôi vẫn đinh ninh rằng chính sự giả dối đang lan tràn trong hệ thống của chúng ta mới là căn nguyên hàng ngày hàng giờ tác động đến lối sống của người dân, làm băng hoại đạo đức tốt đẹp vốn có ở họ.
Và tôi vẫn không ngớt nghĩ về những năm tháng tối tăm gian khổ trong chiến tranh nhưng thấm đẫm tình người, thấm đẫm niền tin và tính thiện ở con người. Chính niềm tin và tính thiện ấy đã giúp chúng ta đi qua những năm tháng gian khó, và sự giả dối, hay thói đạo đức giả của hệ thống hôm nay đang hàng ngày hàng giờ làm băng hoại và giết chết những giá trị đạo đức tốt đẹp vốn có ở con người, ở trong xã hội ta.
+ + + +
Điều khiến nhiều người rầu lòng nhất là sự xuống cấp của đạo đức xã hội
TSKH PHAN HỒNG GIANG

VHNA: Văn hóa và giáo dục là hai môi trường, hai không gian quan trọng bậc nhất của đời sống xã hội. Con nguời sinh ra, trưởng thành trong đó và quyết định đạo đức mà họ là chủ thể. Nhân Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN khóa XI vừa ra Nghị quyết 4 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, VHNA đã đón TSKH Phan Hồng Giang làm khách và cùng trao đổi về những vấn đề xã hội đáng quan tâm từ cách tiếp cận về văn hóa và giáo dục.

 

PV: Thưa ông, xin được bắt đầu từ nghề nghiệp nghiên cứu văn học của ông. Ông thấy đời sống văn học của nước ta hiện nay như thế nào, từ sáng tác văn chương đến lý luận phê bình? 

TSKH Phan Hồng Giang (PHG): Để trả lời tương đối đầy đủ câu hỏi này của anh có lẽ phải cần tới vài ba luận án tiến sĩ thứ thiệt. Tôi chỉ có thể trả lời vắn tắt.

Đời sống văn học ở nước ta hiện nay theo cảm nhận của riêng tôi, khá phong phú, đa dạng nhưng cũng không quá nhộn nhịp sôi động bởi không có sự xuất hiện của nhiều tên tuổi nổi bật hay sự chú ý đặc biệt của đông đảo độc giả dành cho văn học. Hình như cuộc mưu sinh tất bật khắp nơi hôm nay cùng với sự xuất hiện của nhiều phương tiện nghe nhìn hấp dẫn khác đã khiến số lượng người đọc sách văn học giảm đến mức thê lương: Với số dân gần 90 triệu, trung bình mỗi đầu sách văn chương chỉ được in ra phổ biến là trên dưới 1000 bản. Văn chương thưa vắng người đọc khác nào… bóng đá trước khán đài lơ thơ người xem?!

Nếu hình dung bức tranh toàn cảnh văn học nước nhà như một “hội chợ” triển lãm thì đi vào những khu vực cụ thể có thể thấy các “quầy” thơ trẻ, văn xuôi trẻ, văn học mạng… có vẻ tấp nập ồn ào, nhưng lại chưa có nhiều sản phẩm “bắt mắt”, “hữu dụng” hứa hẹn còn lưu lại lâu dài.

Sự tham gia khá sốt sắng của các “quầy” văn chương (?) thủ công nghiệp dư, -nhất là trong thể loại thơ, – thực ra, ngoài tình yêu văn chương thái quá thể hiện bằng số lượng đáng nể, thì cũng không có gì nhiều để nói. Văn thơ dở thì chỉ còn nước là chính tác giả cùng vợ con bạn bè thân quý gật gù thưởng thức. Như hàng xấu vụng về thì không ai mua dùng.

“Quầy” hải ngoại cũng khá đông vui với các cây bút không còn mãi nhâm nhi nỗi buồn xa xứ hay gậm nhấm mối thù xưa hận cũ…

“Quầy” các bậc cao niên – ngoại ngũ tuần “tri thiên mệnh”, lục tuần “nhi nhĩ thuận” hay “thất thập cổ lai hy” và cao hơn nữa… thì thoạt trông có vẻ “đìu hiu” nhưng ngắm nghía kỹ lại hóa ra hầu hết toàn là “đặc sản”, là thứ rượu chưng cất nhiều năm, càng để lâu càng đậm đà hương vị của các quan sát chiêm nghiệm sâu xa chuyện nhân tình thế thái, xới xáo những trầm tích văn hóa…

Đặc biệt có sự hiện diện của cả các “quầy” mà chủ nhân của chúng có thể nói – theo nghĩa đen – là “đội mồ sống dậy”, chiếm vị thế trang trọng trong cuộc “quần anh tụ hội” giả tưởng hôm nay.

“Quầy” lý luận phê bình khá lâu trước đây thường tự hào với thiên chức làm “cái roi” quất cho “con ngựa văn chương” lồng lên (?) nay lại tỏ ra khá vắng vẻ khiêm nhường vào vai các học giả đeo mục kỉnh trầm tư, theo đuổi các thao tác lý luận này nọ…

(Tôi không nhắc đến những cái tên cụ thể nào; người trong giới đọc những giòng trên có thể tự tin mà đoán tiếp ra điều tôi muốn nói, trong khi nếu tôi tự kể thì các bạn sẽ cho là vừa thừa, vừa thiếu !).

PV: Văn học đương đại của chúng ta đã có những tác phẩm lớn và những nhà văn, nhà thơ lớn chưa? Có tác phẩm nào, tác giả nào thực sự lớn mà chúng ta chưa nhận ra hoặc cố tình không công nhận là lớn?

 PHG: Xin nói ngay là để hạ bút đánh giá tác phẩm văn học này “lớn”, tác phẩm kia “bé” cần có những tiêu chí cụ thể đại để là về nội dung đề cập, hình thức biểu đạt, về cảm hứng nghệ thuật hay đặc sắc ngôn từ, về hiệu quả xã hội khách quan và chủ quan, về sự tiếp nhận mang tính đặc thù tương đối ở mỗi người … Mà tất cả những tiêu chí trên, tiếc thay (hay may thay?) lại rất khác biệt – thậm chí còn trái ngược nhau ! – ở những người đọc, những nhóm người đọc cụ thể. Vậy nên tôi cũng xin khất không vội trả lời đạt mức được coi là rõ ràng cho câu hỏi này ngay bây giờ vì quả thật không muốn vô tình (?) gây ra những tranh cãi có thể căng thẳng mà vô bổ khi xuất phát điểm của các đánh giá cụ thể lại hứa hẹn sẽ cách xa nhau quá nhiều! Tôi nghĩ mình có thể sẽ quay lại chủ đề này vào một dịp khác thích hợp hơn chăng?

Tôi chỉ có thể nói ngay một điều rằng, dưới góc nhìn của tôi, văn học đương đại của ta đã và đang có những tác phẩm lớn cùng các tác giả lớn.

PV: Điều khác biệt lớn nhất, căn bản nhất của văn học thời hôm nay so với mấy chục năm trước là gì? Cái khác đó có là một điều kiện để chúng ta hy vọng có những tác giả và tác phẩm lớn?

 PHG: Nếu đem so văn học ngày nay với cách đây vài chục năm thì điều khác biệt lớn nhất nằm ở bối cảnh xã hội mà từ đó văn học đã sản sinh ra: những đổi mới đáng kể diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, nhìn từ sâu xa, đã phần nào góp phần cởi bỏ những bao cấp nặng nề về tư tưởng. Đặc biệt, sự giao lưu, hội nhập quốc tế mang tính tất yếu về nhiều mặt đem lại những thay đổi to lớn trong đời sống xã hội. Từ dòng suối nhỏ chúng ta đã bơi ra biển lớn và học cách hòa nhập tích cực vào nếp cảm. nếp nghĩ và hành vi của nhân loại tiến bộ. Dân trí ngày càng được nâng lên. Tinh thần tư duy khoa học đã dần thay thế cho thói quen tự ràng buộc mình bằng những định đề tiên nghiệm (a priori), con người trở nên khoan dung hơn trước những biểu hiện khác biệt của đồng loại, ngày càng bộc lộ mạnh mẽ hơn nhu cầu được làm chủ chính cuộc đời mình, làm chủ xã hội của những người công dân…

Từ đây, nói riêng về lĩnh vực văn học nghệ thuật, có thể thấy người viết đã có ý thức rõ ràng hơn về sự thực thi quyền tự do trong sáng tác gắn với trách nhiệm chân chính của người công dân. Các cấp quản lý đã tỏ ra thoáng đạt cởi mở hơn và những người viết cũng dần tự cởi bỏ nỗi sợ hãi vô hình bị ai đó xét nét săm soi những cái gọi là “biểu tượng hai mặt”, “ám chỉ ẩn dụ” mà từ đó – như trước đây – có thể bị quy chụp những tội lỗi nặng nề, khó tự bào chữa… Đông đảo người đọc, dưới góc độ tư tưởng-nghệ thuật, cũng tỏ ra nghiêm khắc hơn khi tiếp nhận các tác phẩm văn học; họ sẵn sàng ngoảnh mặt làm ngơ đối với những cuốn sách dễ dãi, nhạt nhòa hay nhảm nhí…

Nói gọn lại, một xã hội với trình độ tự ý thức cao đang xuất hiện và – như một tất yếu lịch sử – dần thay thế xã hội thụ động, quen bị áp đặt, bao cấp. Bên cạnh sự hiện diện của tài năng văn chương, đây chính là điều kiện tiên quyết để chúng ta hy vọng về sự xuất hiện ngày một nhiều hơn những tác giả và tác phẩm lớn.

PV: Văn học là một thành tố cốt lõi của văn hóa. Từ góc nhìn văn học, ông thấy sự vận động văn hóa của nước ta trong giai đoạn vừa qua có những vấn đề, những đặc điểm nào đáng chú ý nhất?

 PHG: Văn học, một lĩnh vực quan trọng của nghệ thuật nói chung, thường được coi là cái chắt lọc, cái tinh hoa của một nền văn hóa. Cho nên nếu chúng ta quan niệm rằng điều cốt lõi nhất của văn hóa là ở đạo đức, lối sống, nếp sống của mọi người trong xã hội thì xem ra khó có thể kỳ vọng gì nhiều ở văn học trong vai trò một tác nhân đáng kể vào sự “vận động văn hóa” mà anh vừa nêu ra.

Nhiều vấn đề, nhiều đặc điểm của sự vận động ấy chắc chắn sẽ được hiển lộ rõ hơn dưới những góc nhìn khác ngoài văn học. Nhìn dưới góc độ xã hội học chẳng hạn, chúng ta sẽ không gặp khó để nhận ra rằng: chính những bất cập trong hệ thống chính trị (mà Nghị quyết TƯ 4 vừa nêu rõ), những khuyết tật trong thể chế kinh tế thị trường, những hệ quả tiêu cực của giao lưu hội nhập quốc tế… đã làm méo mó tai hại đến thế nào cho diện mạo đạo đức, lối sống, nếp sống của cả xã hội, khiến không một ai trong chúng ta có thể yên lòng trước hiện trạng khá nhốn nháo của đời sống văn hóa hôm nay.

 PV: Ông có thấy đời sống văn hóa của chúng ta bây giờ có điều gì đáng ái ngại không? 

PHG: Điều khiến nhiều người rầu lòng nhất hôm nay là những biểu hiện nhan nhản quanh ta về sự xuống cấp của đạo đức xã hội: làm giàu bất chính bằng tham nhũng và kinh doanh gian lận, khoét sâu thêm không thương tiếc cái hố cách biệt giầu nghèo; thói dối trá, đạo đức giả, nói một đằng làm một nẻo trở thành trâng tráo, công khai; bạo lực không hiếm khi trở thành thói quen ứng xử của nhiều người trong gia đình, trong nhà trường và ngoài xã hội; thói hợm hĩnh khoe của xài như phá cả núi tiền kiếm dễ, không mảy may động lòng khi bao đồng bào bên cạnh còn chật vật chạy ăn từng bữa; những giá trị truyền thống của Chân-Thiện-Mỹ bị phai nhạt, dần nhường chỗ cho Tiền bạc – Quyền lực – Danh vị lên ngôi; không ít nơi trước đây vốn là chốn thiêng liêng như đền chùa miếu mạo nay bỗng chốc thành nơi dậy mùi kim tiền, mê tín quàng xiên, mua thần bán thánh…

Khó có thể kể hết những điều bức xúc, dù kẻ xấu gây ra bao giờ cũng chỉ là số ít. Tất cả gần như diễn ra trước sự vô cảm của một số người này và sự phản kháng bất lực của một số người khác…

PV: Vậy vấn đề con người? Phẩm chất người Việt ta trong mấy chục năm qua có gì biến chuyển không? Nếu có thì theo ông có điều gì là thuận, điều gì là không thuận?

 PHG: Không thể nói về một con người nào đó chung chung. “Bách nhân bách tính” – các cụ xưa đã dạy. Có người cơ bản là tốt và, ngược lại, cũng có người cơ bản là xấu. Nói về sự chuyển biến trong phẩm chất người Việt ta trong mấy chục năm qua đôi khi dễ khiến ta gợi nhớ tới câu chuyện hài “Thầy bói xem voi”. Khó có thể có ngay những nghiên cứu định lượng. Đành tạm bằng lòng với những kết luận thiên về định tính.

Nếu nhìn một cách tổng thể về hiện trạng văn hóa đạo đức của xã hội, từ kỳ vọng rất cao của chúng ta dành cho vai trò, vị trí của văn hóa đối với sự nghiệp thiết lập một xã hội “dân chủ, công bằng, văn minh”, chúng ta dễ đồng thuận với cách đánh giá không vui.

Tin vào sự tồn tại vĩnh cửu của những giá trị văn hóa cao đẹp – vốn là bản năng tự vệ bảo đảm cho sự tồn vong của cả dân tộc, chúng ta có thể yên tâm khẳng định về xu hướng đổi thay theo chiều hướng tích cực trong phẩm chất của người Việt; cái xấu phải dần chịu lùi bước, cái tốt đẹp phải giành lại chỗ đứng của mình.

Công cuộc Đổi mới toàn diện ngày càng mạnh mẽ sâu sắc đang diễn ra vừa là hệ quả, vừa là điều kiện tiên quyết để dẫn tới những đổi thay nói trên.

Con người Việt Nam trong mong muốn của chúng ta là con người khao khát thoát khỏi sự hiểu biết hạn hẹp kém cỏi, vươn lên nắm bắt kiến thức khoa học – công nghệ, kiến thức sản xuất – kinh doanh để có thể bộc lộ rõ rệt năng lực cá nhân bằng cách làm ra ngày càng nhiều hơn của cải vật chất – tinh thần, làm giàu chính đáng cho bản thân, cho gia đình mình và góp phần làm giàu cho đất nước.

Con người Việt Nam đang ngày càng là con người có ý thức làm chủ vận mệnh của bản thân mình, tham gia làm chủ thực sự đất nước, thoát khỏi thân phận “thần dân” luôn trông đợi vào sự “cầm tay chỉ việc” của các “quan trên”. Từ vị thế “vô ngã” hòa tan trong “tập thể” vô diện mạo, con người Việt Nam ngày càng nhận ra bản ngã riêng, ý thức rõ ràng về năng lực sáng tạo của mình, biết loại bỏ dần các khiếm khuyết của cá nhân mình, hướng về sự hoàn thiện.

Con ngườì Việt Nam, trên cơ sở thừa nhận hệ giá trị chung, có thái độ khoan dung hơn trước sự dị biệt trong sự hiểu biết, trong quyền lợi và niềm tin của những người khác, để biết nhìn cùng về một hướng, chung tay góp sức đưa dân tộc sớm thoát khỏi cái nhục tụt hậu, đói nghèo.

Con người Việt Nam không còn tự thỏa mãn với cái thú “ta tắm ao ta”, không chỉ quẩn quanh trong xó bếp vườn nhà mà còn biết quan tâm đến muôn mặt hiện tình đất nước; không chỉ là công dân của đất nước mình mà còn là “công dân toàn cầu” cùng mọi người trên Trái đất này ghé vai gánh vác lo toan những vấn đề chung – từ chống khủng bố, loại trừ thảm họa hạt nhân đến chống biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến xóa bỏ dịch bệnh, đói nghèo, bảo vệ môi trường…

Con người Việt Nam biết làm thế nào để nâng cao chất lượng cuộc sống, biết tìm sự thanh thản hài lòng không phải trước tiên là trong sự thừa thãi tiện nghi vật chất mà là ở tình thương với gia đình và đồng loại, ở niềm tin vào Sức mạnh toàn năng của cái Thiện, ở tình yêu nghệ thuật và cái đẹp, ở sự hòa đồng với thiên nhiên…

Để những phẩm chất tốt đẹp trên đây có thể trở thành nét chủ đạo, chiếm ưu thế gần như tuyệt đối trong con người Việt Nam nói chung chắc chắn còn phải vượt qua vô vàn lực cản níu kéo từ di sản của quá khứ-phong kiến-tiểu nông-nô lệ cũng như từ những bất cập trong môi trường xã hội hôm nay.

PV: Chúng tôi vẫn thường nghe một số người nói tình hình phức tạp về văn hóa xã hội chủ yếu là do cơ chế thị trường, do giao lưu văn hóa với bên ngoài thiếu chọn lọc. Điều đó có đúng không, thưa ông?

 PHG: Nhận định đó đúng nhưng chưa đủ, còn phiến diện. Tác động tiêu cực từ cơ chế thị trường là có và có nhiều là đàng khác. Nhưng cần phải nói thêm là để phát triển mạnh mẽ sức sản xuất xã hội, nhân loại cho tới nay chưa nghĩ ra phương thức nào thông minh, hữu hiệu hơn là vận hành cơ chế thị trường với sự điều tiết chừng mực, khôn ngoan của nhà nước. Tác động tiêu cực từ cơ chế thị trường phải nói cho đúng là từ “mặt trái” của nó, khi mà một nhà nước nào đó vì lý do kém hiểu biết, tham nhũng và tư lợi nên không thể điều tiết được nó một cách hiệu quả, khiến bản năng hoang dã tham lam của thị trường càng được dịp tác oai tác quái.

Xin nhớ rằng các nước được coi là có nền tảng văn hóa đạo đức xã hội tương đối hoàn thiện chính là các nước có nền kinh tế thị trường phát triển lành mạnh như các nước Bắc Âu, như Canada, Đức, Áo, Thụy Sĩ…, gần ta hơn là Nhật Bản, là quốc đảo Singapore…

Giao lưu văn hóa cũng vậy. Ảnh hưởng từ bên ngoài vừa có mặt tốt mà cũng có cả mặt chưa tốt, chưa thích hợp. Điều quan trọng là ta phải có nội lực tốt, đủ mạnh, đủ tinh khôn để chọn lọc những gì là phù hợp với hệ giá trị mang tính truyền thống và hiện đại của chúng ta; vừa tiếp thu được tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa giữ gìn được bản sắc văn hóa tốt đẹp của cha ông.

PV: Môi trường văn hóa đang có những điều bất ổn đã tác động tới phẩm chất văn hóa của mỗi người, của cả cộng đồng. Vậy môi trường giáo dục, một không gian văn hóa đặc biệt quan trọng đối với cộng đồng thì sao?

 PHG: Phẩm chất văn hóa, hay nói khác đi là nhân cách của mỗi người hình thành trong môi trường của gia đình, của nhà trường và xã hội. Lứa tuổi đi học là lứa tuổi hình thành khá bền vững nhân cách con người cả cuộc đời sau này nên môi trường giáo dục đóng vai trò quan trọng.

Đáng tiếc là môi trường này còn quá nhiều bất cập – từ chương trình-sách giáo khoa đơn điệu nặng nề, coi nhẹ thực học mà quá thiên về lý thuyết cao xa đến phương pháp dạy “thầy đọc trò chép” nhàm tẻ nhồi nhét kiến thức, từ mục tiêu dường như “học chỉ để thi” đến vô số áp lực học tập “vị thành tích”, “vị thi đua”, “vị khen thưởng” này nọ khiến học sinh không mấy khi được hưởng thụ niềm vui đến trường, tuổi thơ hồn nhiên của các em bị phủ bóng mây u ám…

Điều đáng nói là sản phẩm-đầu ra của giáo dục còn xa mới đáp ứng được yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khi rất nhiều em ra trường với đầy đủ bằng cấp chứng chỉ trong tay nhưng lại rất thiếu kỹ năng hành nghề, chưa nói đến chuyện nhiều em nhân cách bị méo mó vì tác động nhỡn tiền của các hoạt động nhuốm màu “thương mại hóa” của nhà trường và các thầy cô hay của chính bố mẹ mình thể hiện qua việc ” dạy thêm, học thêm” hay qua các dịp lễ tết …

Dù không ai phủ nhận những nỗ lực to lớn của ngành giáo dục nhưng hiệu quả tích cực thì còn chưa tương xứng với mong đợi. Khi không ít người lắm tiền hay cán bộ có chức quyền (kể cả trong ngành giáo dục !) sốt sắng gửi con cái mình – tài sản quý nhất của họ – ra nước ngoài hoặc chí ít là đến các trường quốc tế để được nhận một nền giáo dục khác thì hiện tượng gọi là “tỵ nạn giáo dục”, “chảy máu ngoại tệ” này không nên để các cấp có trách nhiệm chặc lưỡi bỏ qua mà phải đi sâu tìm hiểu căn nguyên đặng tìm ra giải pháp hạn chế, khắc phục.

PV: Theo ông thì điều kiện tiên quyết để khắc phục được sự lạc hậu của nền giáo dục của chúng ta hiện nay và xây dựng được một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại là gì?

PHG: Theo tôi điều kiện tiên quyết là phải sớm xác lập một triết lý giáo dục đúng đắn, để xuất phát từ đó, có thể vạch ra được lộ trình và những cải cách cơ bản toàn diện trong lĩnh vực này sao cho các sản phẩm giáo dục-con người được tạo ra có khả năng sống hạnh phúc, hữu ích, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước ta hiện nay và mai sau.

Để làm được việc này, theo tôi, nhất thiết phải có sự vào cuộc nhanh nhậy, quyết liệt và dứt khoát của cấp lãnh đạo cao nhất ( như ta đã thấy chẳng hạn như là sự can thiệp kịp thời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong việc giải quyết “sự cố” Tiên Lãng vừa qua !). Dù biết là các lãnh đạo cao nhất luôn có trăm công nghìn việc đối nội đối ngoại phải lo, nhưng tôi nghĩ rằng giáo dục – đào tạo nguồn nhân lực vốn được coi là một trong ba nhiệm vụ đột phá theo Nghị quyết Đại hội Đảng XI vừa qua hoàn toàn xứng đáng được lãnh đạo dành cho mối quan tâm đặc biệt.

PV: Xin chân thành cám ơn ông đã trả lời phỏng vấn của tạp chí chúng tôi. Chúc ông sức khỏe và có thêm nhiều trang viết mới./.

 PHAN VĂN THẮNG  (thực hiện)

Link: http://www.viet-studies.info/PhanHongGiang_VHNA.htm

+ + + + +

Thời của Quỷ

Hoàng Anh

Thưa quý vị!

Xin quý vị hãy bình tâm một chút mặc dù trước mắt chúng ta đang diễn ra những cảnh đau lòng tưởng như không thể chấp nhận nổi. Những người đang bức xúc về hành vi bạo lực học đường. Những người đang lo lắng về đạo đức. Những người đang  bàn luận về những câu chửi, những cái tát, những cái đập. Những người đang nuốt nước mắt khi nhìn cảnh những đứa trẻ khác đứng bên cạnh chửi dồn mắng góp và hả hê bằng một sự bình thản chết chóc.

Đó là một chuyện hoàn toàn bình thường, vô cùng bình thường. Chỉ có điều, chúng đang diễn ra ở một xã hội không bình thường mà thôi. Chúng ta chẳng phải bất ngờ đến mức phải thốt lên rồi ngã vật ra như vậy. Bởi vì, chúng ta đang sống trong Thời của Quỷ. Thời của những sự tráo đổi trâng tráo, trắng trợn giữa giá trị và giá cả, giữa giáo dục và giáo điều, giữa linh hồn và quỷ dữ.
Ai đã làm ra chúng? Ai đã thả những con quỷ vào trong những tâm hồn thánh thiện và yếu ớt kia trước khi dạy chúng cách tự vệ. Ai đã dung dưỡng cho con quỷ đó ăn hết cả tâm hồn con trẻ, và khi ăn hết rồi thì chính nó ngự trị bên trong những hình hài con người, để rồi bất cứ lúc nào có cơ hội, nó đều bùng lên bản năng ghê rợn của nó? Nếu có ai đó có lỗi thì hẳn đó phải là tôi, là quý vị, là ai đó khác hơn cả chúng ta chứ không phải là những đứa trẻ này. Chúng chỉ là những nạn nhân không thể phản kháng trước những cạm bẫy, những thuốc độc đã được bày sẵn ở đó rồi. Phải, những nạn nhân không hơn không kém.
Có phải đến bây giờ chúng ta mới nhận ra điều gì đang tồn tại trong những ngôi trường kia? Có phải bây giờ chúng ta mới nhận ra khi ném những đứa trẻ vào những lớp học là ném những con cừu vào giữa bầy sói? Có phải bây giờ chúng ta mới nhận ra ở trường học mà những con, những em chúng ta ngày ngày vào ra có tất cả mọi thứ trừ những điều để học? Có phải bây giờ chúng ta mới nhận ra rằng ở các ngôi trường kia dạy tất cả mọi thứ, trừ văn hóa và nhân tính con người?
Không!
Chúng ta đã nhìn thấy điều đó từ lâu lắm rồi, từ những tiếng nói bập bẹ chưa tròn tiếng của những đứa con, đứa cháu đòi ta sao chưa đến thăm cô giáo. Từ chuyện đứa trẻ mẫu giáo bị kẹt lại trong lớp học vào chiều cuối tuần thứ sáu, để rồi từ lúc đó đến khi người ta tìm thấy nó chết trong tư thế đang cắn vào chấn song cửa sổ với những vệt nước mắt ngấn đọng trên khuôn mặt hoảng loạn. Từ chuyện những cuộc thi cử bị quay phim rồi tố cáo ầm ỹ. Từ chuyện học sinh đón đường đánh thầy giáo vì cho điểm thấp. từ chuyện các quan chức sử dụng học sinh lập đường dây dẫn gái đổi tình lấy điểm. Từ bao nhiêu vụ giáo sư gạ tình sinh viên rồi bị phơi chềnh ềnh trên báo chí…chúng ta đã thấy một cái thời mà mọi chuyện thị phi, xấu xa đê tiện và kinh khủng đều xảy ra ở các ngôi trường từ rất lâu rồi. Và hôm nay, tại sao lại phải hoảng hốt đến mức bất ngờ khi những con quỷ bên trong mỗi đứa trẻ lại hành hung nhau như vậy? Chúng ta cần một sự phản kháng, không cần thêm sự sợ hãi nữa.
Nền giáo dục là thủ phạm đầu tiên, khi nó từ chối việc uốn nắn con em chúng ta thành những con người. bao nhiêu năm nay, đã bao lần những cuộc cải cách, cải tổ, cải biên, cải chính được thực hiện, nhưng đã có ai phải nhận trách nhiệm cho việc càng ngày nó càng xuống cấp hay chưa? Không, có lẽ đó không phải chỉ là “xuống cấp,” đó là một nền giáo dục băng hoại và bất lực khi nó không thể rèn giũa những hài nhi ngây thơ thành những công dân đủ tri thức, học vấn, năng lực, kỹ năng của một công dân bình thường. Nó đặt ra quá nhiều mục tiêu, nhưng loại trừ mục tiêu là đào luyện con người. Thậm chí nó càng dung dưỡng trong mình một yếu tố quỷ, để hủy mọi thế hệ khi được đặt vào tay nó.
Một nền giáo dục như thế thì rút cuộc nó chỉ tạo ra những con quỷ.
Một nền giáo dục tạo ra những con quỷ thì sẽ tạo ra cho xã hội nó những yếu tố trở thành một xã hội quỷ.
Một xã hội quỷ, khi không thể sửa chữa được nữa thì sẽ không có gì ngăn cản nó thành thời của Quỷ.
Những đứa trẻ lao vào nhau cắn xé đồng loại. Những đứa trẻ đứng bên cạnh, hoặc vô cảm, hoặc cổ vũ như những trò chơi độc ác của bản năng, thì không tên gọi nào khác xứng đáng hơn với nó chính là những vũ điệu của quỷ dữ.
Nhưng thưa quý vị, chúng không có tội. không ai có quyền nói rằng rồi sẽ “xử lý” chúng. Một xã hội nếu chỉ tôn thờ thói quen “xử lý” các nạn nhân bất khả kháng để giấu đi lỗi lầm, sai trái của mình thì đó không phải là xã hội của con người nữa.
Phải hỏi ai đó, hỏi những người đã có chủ tâm, có chủ ý biến nền giáo dục thành một công cụ để nhồi sọ và ngu dân. Phải hỏi ai đó bắt mục đích của giáo dục cầm tù, rồi thả phóng những động cơ bẩn thỉu cho chúng sinh sôi nảy nở khắp các nhà trường từ cấp nhỏ nhất đến cấp cao nhất. Phải hỏi những kẻ mà mới hôm qua thôi, chúng còn ra rả loan báo về những cuộc cải cách mới. Nhưng thực chất vẫn chỉ là để bao che cho hành vi cầm tù giáo dục và bắt cóc mục đích giáo dục để dễ bề thao túng xã hội bằng sự áp đặt về tinh thần.
Chúng không có tội. Những  đứa trẻ  không thể lựa chọn các môn học, các giá trị, các kỹ năng con người. Chúng chỉ đến đó, những thành trì của quỷ dữ và tiếp nhận một cách vô thức tất cả những gì người ta vẽ ra theo một lộ trình đầy ý đồ. Để rồi ở đó chúng bắt đầu những việc làm giả dối, vì không giả dối vì không có điểm cao. Ở đó chúng học được những mánh khóe, vì nếu không có mánh khóe thì không thể có thành tích tốt. Ở đó chúng trở thành các công cụ, vì chỉ có những học sinh ngoan, giỏi, tốt theo tiêu chuẩn, chỉ tiêu mới là sự đảm bảo cho thành tích của các thầy, các cô, của các lãnh đạo theo cấp trong nghành giáo dục. Không có ngày nào chúng được sống theo đúng những gì chúng đáng được hưởng, thì không có lý nào chúng ta coi đó là những thủ phạm được?
Và, thưa quý vị, những hình ảnh quý vị đang nhìn vào với những thái độ bức xúc khác nhau,  bằng những quan điểm khác nhau bao gồm cả sự phê phán. Đó không phải là tiếng chửi rủa của một cô bé, cậu bé. Đó không phải là tiếng cười hả hê của những đứa trẻ ngây ngô, tò mò, hiếu động. Đó không phải và không thể là lý do để bất cứ ai trong chúng ta được phép dùng để kết tội chúng.
Tất cả, tất cả những âm thanh, những cảm xúc đó là tiếng kêu tuyệt vọng của lương tâm con người trước trận tấn công cuối cùng của bầy quỷ dữ. Tất cả những âm thanh đó là tiếng kêu cứu yếu ớt cuối cùng vọng đến lương tâm của những người đang phán xét chúng. Là tiếng cầu xin cuối cùng của mà tương lai của chúng ta có thể cất lên được, trước rất ít khoảnh khắc mà thời đại của chúng ta sẽ bị hoán đổi thành Thời của Quỷ.

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: