Bàn luận về “chỉ số hạnh phúc” – Nguyễn Văn Tuấn

Bàn luận về “chỉ số hạnh phúc” – Nguyễn Văn Tuấn

Báo chí trong nước trích dẫn một báo cáo cho thấy người Việt hạnh phúc nhất nhì thế giới. Một số bạn bè ngạc nhiên về chỉ số này nên có vài lời bàn. Trong những người tham gia bàn luận (PQT, NĐH, BVNS, NVT, VQV, PPL) thì chỉ có anh VQV là người ít nhiều dính dáng đến khoa học xã hội, còn lại là dân hard science, nhưng cũng thú vị để biết quan điểm của họ về tính hợp lí của chỉ số hạnh phúc ra sao và có ý nghĩa gì. Vì đây là trao đổi email nên câu văn và chữ có tính “bình dân”.

PQT

Theo New Economics Foundtion thì VN là nước hạnh phúc thứ 2 trên thế giới, Bangladesh thứ 8 và Mỹ thứ 104. Zimbabwe (97) xấp xỉ Bỉ (96).  Afghanistan (112) cao hơn Luxembourg (128). Có ai giải thích được cái bảng xếp hạng kì cục này không? Quan trọng hơn, ai trả lương cho mấy vị nghiên cứu salon ở bên Anh để ngồi làm những bảng xếp hạng vớ vẩn này?

NVT

Đối với những bảng xếp hạng như thế này, điều đầu tiên tôi quan tâm là phương pháp họ làm ra sao. Thật ra, họ làm rất đơn giản, chỉ số hạnh phúc (HPI) chỉ dựa vào 3 yếu tố.  Mỗi nước, họ tính HPI bằng cách lấy cái gọi là “experienced well-being” (chất lượng / trải nghiệm?) nhân cho “life expectancy” (tuổi thọ trung bình) và chia cho “ecological footing”.

Life expectancy hay tuổi thọ bình quân thì họ lấy từ mấy nguồn thống kê quốc tế.  Điều này theo tôi là chấp nhận được trong tình hình thiếu dữ liệu, không có vấn đề gì.

Ecological footing là chỉ số đo lường diện tích đất đai cần thiết để duy trì sự tiêu thụ, kể cả đất đai cho tài nguyên tái tạo, diện tích đất cần cho hấp thu CO2, v.v. Cũng chưa thấy vấn đề gì, dù đi vào chi tiết thì có vài câu hỏi.

Nhưng cái well-being experience thì theo tôi là có thể có vấn đề.  Họ sử dụng số liệu từ survey do nhóm Gallup làm.  Ở mỗi nước họ làm survey / điều tra trên khoảng 1000 người tuổi từ 15 trở lên.  Ở VN làm survey rất khó có kết quả trung thực. Người được hỏi có khi không nói thật lòng, mà chỉ muốn nói cho người hỏi hài lòng.  Có hãng mướn người đi hỏi (interviewer) và người hỏi có khi lười biếng tự mình điền vào các bảng câu hỏi.  Theo tôi được biết tình trạng này đã từng xảy ra.  Do đó, những kết quả của survey ở VN, nếu không kiểm soát cẩn thận, rất khó tin.

Còn cách xếp hạng thì tôi chẳng thấy họ xếp gì cả.  Họ chỉ dựa vào HPI rồi dán cho nước nào hạng 1, hạng 2, đến hạn n.  Thế thôi.  Đáng lẽ họ phải điều chỉnh cho thu nhập hay gì đó để cho “công bằng” hơn.  Trước đây, ông A. Sen (Nobel kinh tế) có viết một bài trên British Medical Journal, trong đó ông nói rằng ở Ấn Độ, tiểu bang giàu có và tuổi thọ cao thường than phiền bệnh tật và không hài lòng hơn so với tiểu bang nghèo và có tuổi thọ thấp.  Tại sao? Tại vì, theo ổng, người nghèo không có điều kiện tiếp cận với thông tin và cũng chẳng đi đâu ra ngoài để có dịp so sánh.

Do đó, tôi nghĩ cái chỉ số HPI xếp VN ta hạng 2 không hẳn phản ảnh dân mình hạnh phúc nhất nhì thế giới, mà có thể phản ảnh người dân bị cô lập và không có cơ hội tiếp cận & so sánh với ngoài.  Dĩ nhiên cách hiểu đó với giả định họ có cái well-being experience là hoàn chỉnh (nhưng tôi thì có chút nghi ngờ).

PQT

Cái sai trong chỉ số này không phải ở “experienced well-being” hay “life expectancy” mà ở “ecological footing”. Ecological footprint  chỉ là một cách để đo thu nhập (vì càng thu nhập nhiều, càng tiêu thụ, nhiều, và do đó càng có ecological footing lớn). Tức là theo kiểu lý luận của nhóm này thì thu nhập càng nhiều, hạnh phúc càng ít. Ngớ ngẩn ở chỗ đó. Dĩ nhiên nếu adjust cho thu nhập thì sẽ cancel out cái ecological footprint!

Tôi không biết “xếp hạng” với “dán cho nước nào hạng 1, hạng 2, đến hạn n”  khác nhau ở chỗ nào 🙂 Nhưng chính họ có vẻ cũng confused không biết đó là hạng gì. Họ viết (http://www.happyplanetindex.org/about):

The HPI measures what matters: the extent to which countries deliver long, happy, sustainable lives for the people that live in them.”

nhưng ngay sau đó lại viết:

The index is an efficiency measure, it ranks countries on how many long and happy lives they produce per unit of environmental input.”

Câu trên thì nói measure extent, câu dưới thì nói measure efficiency!

NVT

Operationally, tôi nghĩ cái chỉ số hạnh phúc HPI có lẽ nó đo lường cái efficiency. Bản chất nó là tỉ số mà. Nhưng vấn đề là cái “construct” này khó hiểu quá.  Họ lấy cái life expectancy (sau khi điều chỉnh cho well being experience) tính trên diện tích!  Đơn vị là năm trên mét vuông! Ai mà hiểu được cái chỉ số này phản ảnh cái gì, chẳng khác nào lấy thời gian chia cho không gian!

Bên y học, chúng tôi có đo cái gọi là Quality of Life.  Có khoảng 36 câu hỏi để ước lượng chất lượng cuộc sống ra sao.  Hai khía cạnh thể chất (physical) và tinh thần (mental) phải xem xét đến. Sau này còn có thêm chỉ số QALY – quality adjusted life years để quyết định trong việc điều trị ai có hiệu quả kinh tế hơn ai.  Nhưng rất tiếc mấy khái niệm như QALY chưa được ứng dụng trong chuyện xếp hạng hạnh phúc.

Xếp hạng (ranking / league table) khác với sort. Xếp hạng còn phải lo đến vấn đề ties và vài chi tiết kĩ thuật khác. Tinh vi hơn thì phải tiếp cận bằng phương pháp Bayes.  Xếp hạng bệnh viện bên Mĩ họ dùng những phương pháp tinh tế lắm, chứ đâu phải như mấy ông bà trong nhóm này làm (trông buồn cười ghê).

PQT

Khác biệt lớn lao giữa physical sciences và KH xã hội. Trong physical sciences khi tìm ra một equation nào mà tiên đoán những kết quả ngớ ngẩn, sai thực tế thì nhà KH gãi đầu gãi tai suy nghĩ lại xem mình nhầm lẫn chỗ nào. Trong KHXH thì khi gặp trường hợp đó thì nhà KH mừng rỡ đi khoe khắp thế giới rằng mình mới có 1 phát minh vĩ đại! 🙂

VQV

Tôi thấy ranking có 1 số vấn đề:

1. Về mặt ranking, nếu chỉ dùng 1 chỉ tiêu duy nhất, thí dụ như xếp hạng theo số giáo sư trên đầu một học sinh ở 1 đại học cũng đã tạo ra vấn đề rồi: đó là vấn đề chất lượng giáo sư. Dùng cái gì để đo chất lượng giáo sư?  Ở các nước tây phương tiên tiến, dù sao cũng dễ đồng ý là 1 giáo sư có bằng tiến sĩ là tương đương nhau, khi xem xét một trường đại học chỉ cấp bằng BA. Ở những trường với mục đích giáo dục cơ bản cấp BA như thế, thì một ông có Nobel Prize hoặc có bài đăng đầy báo chuyên ngành chẳng hơn gì (và thường là tệ hơn vì thường ông ta chỉ lo nghiên cứu chứ không lo dạy và hướng dẫn sinh viên) 1 giáo sư chuyên dạy học. Đây cũng là lý do tờ báo US News and World Report không đếm bài viết hay giải nhận được để xếp hạng đại học dành cho sinh viên học BA ở Mỹ.

2. Khi dùng hơn 2 chỉ tiêu thì vấn đề lại lớn hơn. Thí dụ chỉ tiêu HDI (human development index) của UNDP, cộng ranking của GDP với ranking của tuổi thọ và ranking của số năm học trung bình của người dân, v.v. rồi lấy trung bình. Đây là trò táo cộng với cam ai cũng biết. Chẳng có lý thuyết gì chứng minh cái HDI này có ý nghĩa gì. Họ không thích ranking theo GDP nên thêm các chỉ số khác. Khi làm theo HDI thì nước nào có số năm học trung bình của người dân cao hơn sẽ có ranking cao hơn so với ranking chỉ dùng GDP.

3. Trò happy index này còn tệ hơn, vì nó vừa áp dụng nguyên tắc táo có thể cộng với cam, vừa không định nghĩa rõ ràng các chỉ tiêu. Nếu họ chỉ dùng 1 chỉ tiêu đề điều tra xem % dân cảm thấy hài lòng về cuộc sống để xếp hạng có lẽ còn hay hơn. Nhưng để làm tốt, việc  điều tra cảm nhận của dân chúng như thế đòi hỏi mẫu điều tra phải đại biểu mọi tầng lớp dân chúng (lớp giầu, người nghèo, người ở nông thôn, người ở thành thị, v.v.). Tôi không nghĩ nhóm người Anh này, thực hiện được những cuộc điều tra chuẩn mực như vậy ở các nước. Ở VN không chừng họ ra siêu thị hỏi những thị dân lắm tiền.

PPL

Tôi xin góp vài ý kiến về nghiên cứu này  như sau:

1) Ở VN có người nói họ hài lòng hơn là họ nói thật vì họ so sánh với nếp sống cơ cưc nhiều hơn trước đó và có lẽ rất nhiều người hài lòng thật vì họ không biết sự thiệt thòi đang hứng chịu, không so sánh để than phiền và tranh đấu.

2) Cái bất hạnh VN ghê gơm cho VN chính là sự cam chịu thành thuần thục trong xã hội, người dân cho như vậy đã là hạnh phúc hơn rồi, không còn nhu cầu phấn đấu để có cuộc sống tốt đẹp hơn nữa . Trong khi thế hệ sau đang được rèn luyện trong một nền giáo dục mà gian trá là khuôn mẫu để thành công ngay khi họ chuẩn bị vào đời.

3) Tôi không ngạc nhiên khi dân chúng HK không hài lòng với cuộc sống họ vì kinh tế vẫn còn trì trệ và xuống dốc; vì họ đòi hỏi cuộc sống cao đã quen trước đây (tuy rất nhiều phung phí)  nay không còn thế nữa, Họ phấn đấu không cam chịu không hài lòng với cuôc sống hiện tại của họ (tuy còn tốt hơn người khác) mà họ tự cho là họ mình đáng được hưởng thụ.

Do đó nghiên cứu này không đủ khoa học mà xếp hạng nước này với nước khác nhưng có giá trị riêng cho từng nước theo thời gian thôi.

Nếu ta hỏi: Bà có hài lòng với chồng bà không rồi xếp hạng các ông thì kết quả sẽ ra sao?

NVT

Tôi cũng nghĩ đến cách diễn giải của anh PPL: đó là phản ảnh sự biến chuyển về kinh tế trong thời gian qua.  Tôi thử tưởng tượng mình ngày xưa thì đạp xe đạp đi làm, thu nhập chẳng có bao nhiêu, chế độ hộ khẩu hà khắc, v.v. Nay tôi lái Honda đi làm, lương lậu ok, đủ để chiều về nhậu lai rai, chế độ hộ khẩu thoải mái hơn.  Như vậy là hài lòng rồi.  Nhưng tôi đâu có cơ hội để so sánh với cuộc sống ở Hồng Kông ra sao.  Bởi vậy, so sánh hay xếp hạng khách quan lúc nào cũng phải xem xét đến thời gian tính và không gian nữa.

Bên tâm lí học (và khoa học xã hội cũng vậy) họ phân biệt  khái niệm construct variable và operational variable. Tôi  không biết dịch như thế nào cho hợp lí và đúng nữa. Hạnh  phúc là một construct, một latent variable vì nó trừu  tượng. Vấn đề là tìm cái operational variable có thể  phản ảnh cái construct đó. Mấy người bên kinh tế họ “nặn” ra cái chỉ số HPI và họ xem đó là một operational variable phản ảnh cái construct gọi là “hạnh phúc”. Tôi thì nghĩ  hạnh phúc phải có nhiều operational variable chứ đâu phải một. Đáng lẽ họ phải làm nhiều research để chứng minh cái HPI của họ nó vừa accurate lại vừa reliable. Không chứng minh được hai đặc điểm này thì nó chỉ là con số vô hồn.

Năm ngoái thấy có người trong Viện nghiên cứu giáo dục làm ranking mấy trường, chỉ đơn giản cho excel nó sort tỉ lệ tốt nghiệp. Nếu làm ranking đàng hoàng thì phải dựa vào nhiều biến và phải tính đến hiện tượng regression toward the mean, chứ đâu phải làm như … excel :-). Viết đến đây tôi chợt nhớ Einstein hình như có nói đơn giản hóa là cần thiết, nhưng đơn giản hóa đến mức ngô nghê thì  đó là deception. (Có thể tôi nhớ không đúng nhưng đại khái ông nói vậy, và tôi rất đồng ý).

BVNS

Về vụ “hạnh phúc” và cách “tính toán” tôi không rành lắm, nhưng có cảm giác cách tính “Tổng hạnh phúc quốc gia” của Bhutan có vẻ có các “thao tác” kết hợp được khá tốt điều anh vừa nói. Xin anh tìm hiểu và cho anh em biết rõ thêm với. Hai cách tính GDP và HPI tỏ ra thiêng lệch và có yếu tố lừa mị.  Tôi có nói qua điều này trong một bài báo xuân cho TBKTSG,  xin gửi để quý anh chị đọc chơi:   http://vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song/cuoc-song-quanh-ta/4203-hanh-phuc-ai-ban-ma-mua-.html.

NVT

Cám ơn bài của anh NS.  Tôi đọc không sót một bài nào, không sót một cuốn sách nào (xuất bản gần đây) của anh.

Tôi đoán rằng những trò tính toán chỉ số hạnh phúc này xuất phát từ ông Thủ tướng Anh, David Cameron.  Hai năm trước ông ấy phát động dự án tốn 2 triệu Anh kim để tìm cách đánh giá sự hạnh phúc của người dân Anh.  Tham vọng ghê!  Đánh giá hạnh phúc một cá nhân đã khó (vì tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian, và không gian), ông ấy đòi đánh giá cả một quần thể, một dân số, một quốc gia.  Nhưng cũng là một ý tưởng tốt cho các bác xã hội học phải suy nghĩ!

Cái ý tưởng hạnh phúc mà anh đề cập đến như là “Bhutan” là bắt chước từ … ngành y.  Và, họ có lí.  Bên ngành y, đã từ lâu người ta biết rằng những đánh giá hiệu quả của thuốc dựa vào các chỉ số sinh lí như năm sống, mức độ đau đớn, huyết áp, lượng mỡ, lượng nạc, mật độ xương, insulin, glucose, blah blah là dành cho giới khoa học, chứ có khi chẳng dính dáng gì đến bệnh nhân.  Kéo dài số năm sống 1 năm có thể là một thành công của y học, nhưng trong 1 năm đó bệnh nhân phải đau khổ, thì không thể xem là thành công được.  Phải có một thước đo chung cho tất cả các bệnh, và họ đi đến cái khái niệm quality of life hay QALY sau này. Chắc cũng giống như kinh tế, đo GDP không phản ảnh hạnh phúc, nên họ đề nghị GNH – gross national happiness.  Tôi không biết rõ cái chỉ số này, và chỉ đọc sơ qua trong một số của Journal of Social Medicine thôi.  Nhưng thấy những operational variables của họ (economic wellness, environmental wellness, physical wellness, workplace wellness, social wellness, political wellness) thì thấy có vẻ tốt và đầy đủ hơn là cái HPI. Nhưng tôi thì quan tâm đến cách họ làm ra sao và nguồn dữ liệu từ đâu.  Nguồn dữ liệu về mấy cái “wellness” này rất khó tìm thấy ở VN.

VQV

GDP là nhằm đo giá trị tăng thêm trong nền kinh tế, trong 1 kỳ hạch toán, có thể là tháng, quí hay năm. Có 3 cách do:

1. đo giá trị tăng thêm bằng cách lấy giá trị sản phẩm tạo ra trừ chi phí sản xuất

2. đo theo thu nhập tạo ra bằng cách lấy thu nhập, phản ánh giá trị tăng thêm trên, cộng với nhau

3. đo theo sản phẩm sử dụng cuối cùng trong nền kinh tế bằng cách cộng tiêu dùng cuối cùng, tích lũy, xuất trừ nhập khẩu.

Ba cách tính trên theo nguyên tắc đều đưa tới 1 con số. Nếu khác nhau thì đó là sai số thống kê. Tất cả đều tính bằng tiền nên hệ thống trên không có vấn đề táo cộng với cam. Nó cũng dựa trên lý thuyết kinh tế và hoàn toàn phù hợp với nhau, vì tổng cung (sản phẩm sản xuất ra cộng với nhập khẩu) phải được cân bằng với tổng cầu tức là sử dụng (tồn kho là 1 loại sử dụng).

Nếu GDP được chuyển sang một đồng tiền nước ngoài nào đó thì phải dựa trên hối suất thị trường. Hối suất phản ánh khả năng tài chính của nền kinh tế trên thị trường thế giới.

Còn nếu mà muốn so sánh theo sức mua, thì phải dùng phương pháp so sánh sức mua để chuyển GDP vì 1 đô la có thể mua nhiều hàng ở VN hơn là Mỹ.

GDP không nhằm mục đích nói lên con người có hạnh phúc không, có đời sống cao hơn hay không. Ở VN, hơn 40% GDP  không được dùng để trả cho người lao động mà được đem tích lũy, một phần không nhỏ (khoảng 20-30% giá trị tích lũy) là rơi vào tay quan chức cho nên chỉ có một số nhỏ là giầu còn đại đa số người lao động không đủ tiền nuôi gia đình. Muốn phân tích những vấn đề này thì phải đi xa hơn là tính GDP.

GDP là 1 index, chỉ có 1 mục đích hạn chế, là nhằm đo sự tăng trưởng của kinh tế.  Giải thích tại sao kinh tế tăng trưởng hay lụn bại là vấn đề khác.

Theo tôi, đáng lẽ chỉ nên có 1 chỉ số cảm thấy hanh phúc. Giải thích tại sao chỉ số đó cao hay thấp lại là chuyện khác. Một người sống lâu chưa chắc đã hạnh phúc. Cộng chỉ số cảm thấy hanh phúc với chỉ số tuổi thọ là cộng cam với táo. Cũng có người cho rằng sống lâu là hạnh phúc, nhưng đó là đem chủ quan của mình vào vấn đề tạo index rồi.

Cái gọi là GDP xanh cũng đặt ra nhiều vấn đề. Trước đây tôi có viết 1 bài do US Bureau of Economic Analysis xuất bản, đề nghị GDP xanh là mức GDP của 1 thời điểm mà tại đó tài nguyên và môi trường được giữ nguyên trạng. Nếu áp dụng guyên tắc này thì GDP xanh sẽ giảm đi nếu phải chi phí để giữ nguyên trạng. Hàn Quốc định thử nghiệm nhưng cuối cùng họ bỏ cuộc vì không đủ số liệu mà muốn thu thập thì rất tốn kém. Cách mà UN đang làm là hạch toán các tài nguyên đang mất đi cũng như ô nhiễm tạo ra do sản xuất, và tránh không đưa ra 1 index tổng hợp. Vì làm sao mà tổng hợp?

PQT

Thực ra HPI không CỘNG chỉ số cảm thấy hạnh phúc với tuổi thọ, mà NHÂN chúng. Cộng cam với táo thì phản khoa học, nhưng nhân cam với táo thì không phản khoa học (cũng như người ta nhân m với kgf để được m.kgf là đơn vị năng lượng), chỉ có vấn đề là nhân như vậy có nghĩa gì. Nick Marks, người sáng chế ra HPI, giải thích rằng tích số của chỉ số cảm thấy hạnh phúc và tuổi thọ là một cách  đo lường “happy years of life”. Tức là một người sống 40 năm với chỉ số cảm thấy hạnh phúc 8 cũng cảm thấy hưởng thụ bằng một người sống 80 năm với chỉ số cảm thấy hạnh phúc 4 🙂 Tuy hơi tức cười nhưng cũng không đến nỗi quá vô lý.

Vấn đề là khi họ chia cái tích số đó cho ecological footprint, tức là cũng như chia cho per capita income vì hai cái này liên quan rất sát với nhau (xem hình). Ở đây cũng không có vấn đề phản khoa học, vi họ chia chứ không cộng hay trừ (cũng như chia gallons cho miles để đo hiệu năng của xe hơi), nhưng vấn đề là thiếu căn bản thực tế. Họ assume rằng nếu efficiency là một hằng số thì chỉ số cảm thấy hạnh phúc phải tỷ lệ với income hay EF, this is an entirely unfounded assumption. Chẳng hạn, ta dễ chứng minh rằng chỉ số cảm thấy hạnh phúc tùy thuộc vào tốc độ tăng trưởng income hơn là tùy vào độ lớn của income: một người lao công được tăng lương gấp đôi trong 1 năm sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn một ông nhà giàu bị mất di 1 nửa gia sản trong một năm.

VQV

Tôi không thể tự đánh giá về thống kê GDP hiện nay ở VN. Trước đây khoảng 10 năm thì tôi có thể bảo đảm là thống kê VN đáng tin cậy, và tôi đã viết một bài đánh giá thống kê GDP VN cho Ngân hàng châu Á (ADB) chính thức phản bác mâu thuẫn nội tại trong số liệu mà IMF tự  làm, từ đó IMF đã phải dùng số liệu của VN.

Theo tôi hỏi từ những người làm thống kê VN thì GDP không còn đáng tin cậy vì hai lý do:

1. Ngay phương pháp đầu là lấy giá trị sản phẩm trừ đi chi phí cũng không còn thực hiện được vì không có điều tra thường xuyên để có giá trị sản phẩm. Có nghĩa là họ dùng một số indexes nào đó để phỏng đoán bằng phương pháp extrapolation thôi.

2. Số liệu tồn kho trong hơn 10 năm tiếp tục tăng, những năm gần đây lên đến 3-5% GDP, và nếu cộng 10 năm lại và tính theo giá hiện hành thì bằng hơn 30%  GDP. Điều này vô lý vì không ai cứ tiếp tục sản xuất với tốc độ cao để bỏ vào kho. Nguyên tắc kinh tế là khi tồn kho tăng thì người sản xuất sẽ giảm sản xuất. Như vậy có nghĩa là GDP đã bị nống lên để có con số đẹp hơn. Đây là tôi đoán vì không thể kiểm chứng.

Ngoài ra xin cám ơn anh PQT đã đọc kỹ chỉ số hanh phúc để nói là họ nhân chứ không cộng. Tôi chỉ đoán mò, dựa trên chỉ số HDI của UNDP. Chỉ số HDI này dùng phương pháp trung bình cộng đơn giản. Cũng là UN cả, nhưng Cục Thống kê của LHQ đã nhiều lần tỏ thái độ không hài lòng với cách tính của UNDP, là một tổ chức của UN nhưng chủ yếu làm công tác phân phối và kiểm soát tiền viện trợ không hoàn lại cho các nước pháp triển. Chỉ số đánh giá trường học của US News and World Report là trung bình có tỷ trọng cho từng index.

NVT

Tôi nghĩ có thể xem cái wellbeing experience như là một utility, khái niệm mà chắc ai cũng biết. Do đó, lấy tuổi thọ trung bình nhân cho utility thì tôi thấy không có vấn đề gì.  Nhưng khi họ tính HPI = LE*U / EF thì có thể bàn thêm. Cái underlying assumption của công thức này là có một mối tương quan deterministic giữa LE*U và EF (chính vì thế họ mới lấy tỉ số).  Nhưng trong thực tế thì có thể mối tương quan là: LE*U = a + HPI*EF, hay thậm chí LE*U = a + HPI*EF + b*EF^2 (vì thu nhập càng cao thì hạnh phúc có khi giảm như A. Sen nói).  Nói cách khác, họ giả định rằng a = 0, và đó là điều mà bác PQT gọi là unfounded assumption? Cái sai lầm về technical của họ là ở đây.

BTW, cái R^2 = 0.82 đó có lẽ là overestimate.  Tại sao?  Tại vì cả x và y đều có random error, và là chỉ số summary, nên nó tròn trĩnh hơn là thực tế.  Ngoài ra, phân tích kiểu này phạm sai lầm gọi là ecologic fallacy.  Nhưng nói cho ngay, mấy “sai lầm” này có thể tạm làm ngơ vì nếu làm đúng phương pháp thì chắc chẳng có gì để nói. 🙂

NĐH

Hai bác NVT và PQT cho thấy là HPI có sai lầm cơ bản mà các sinh viên đều có thể thấy. Cơ bản là LE và HPI không phải là independent variables, chúng có liên hệ với nhau (và chúng cũng có thể liên hệ với EF). Để chứng minh chúng là independent variables (mà không phải confounding variables) thì phải test chúng.

PQT

Tôi nghĩ muốn có thể định nghĩa efficiency = y/x thì  giữa x với y phải có một tương quan input-output. Nếu x không phải là input (hay ít ra là 1 trong những inputs chính) để sản xuất y thì định nghĩa efficiency = y/x không có ý nghĩa. Chẳng hạn, miles per gallon (xăng) là một meaningful definition của efficiency vì nếu ta nhân số gallons gấp đôi thì cái xe đó cũng đi  một quãng đường dài gấp đôi (other things being equal). Nhưng miles per litre of oil hay miles per cylinder không phải là một meaningful definition của efficiency vì quãng đường xe đi được không tùy thuộc vào lượng dầu nhớt hay số xy-lanh.

Như vậy, khi họ bảo HPI đo “efficiency” tức là họ phải ngầm assume rằng giữa Ecological Footprint và (Wellbeing x Life expectancy) có một tương quan input-output, mà điều đó thiếu cơ sở.

Ngoài ra, dù có thể đo “cảm nhận” một cách chính xác, cũng không có cơ sở khoa học để nhân chia cái số đó với 1 cái khác vì mình không biết cái scale đó có linear không. Chẳng hạn, sự cảm nhận âm thanh đi theo logarithmic scale: khi có mười nguồn âm thanh cùng phát ra, mỗi nguồn 60 decibels, thì kết quả không phải là 600 decibels mà là 70 decibels. Vì vậy nhân “chỉ số cảm nhận hạnh phúc” với “số năm sống” là rất… hairy 🙂

Còn về cái R^2 = 0.82 giữa EF và GDP thì cũng không có gì lạ vì ta có thể expect là EF và GDP có causal relationship, thậm chí mutually causal relationship.

Nói tóm lại, những bàn luận trên đây cho thấy cách xếp hạng về hạnh phúc của nhóm New Economics Foundation không đáng tin cậy. Lí do ch sự không đáng tin cậy là vì 4 lí do chủ yếu sau đây:

(a) khái niệm và lí thuyết về hạnh phúc không rõ ràng; thật ra là chỉ số HPI đo lường tính hiệu năng hơn là hạnh phúc;

(b) cách thức thu thập dữ liệu còn nhiều nghi vấn vì không rõ ràng;

(c)  phương pháp tính toán quá đơn giản. Hạnh phúc là một construct đa chiều và đa biến, nhưng cách họ xây dựng thành một biến số đơn giản không phản ảnh hết những biến số mà chúng ta từng biết phản ảnh chất lượng cuộc sống và hạnh phúc;

(d) mô hình thống kê của họ dựa vào một (hay vài giả định) không hợp lí, hoặc không thể kiểm định được;

Do đó, có lẽ chúng ta không nên tự hào là người hạnh phúc nhất nhì thế giới.

Link:  http://nguyenvantuan.net/news/6-news/1526-ban-luan-ve-chi-so-hanh-phuc

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: