NGƯỜI PHỤ NỮ BA LẦN LÀ HOÀNG HẬU VÀ VỤ ÁN LỊCH SỬ: AI GIẾT VUA ĐINH?

TS. LÃ DUY LAN

Đó là trường hợp độc nhất vô nhị trong lịch sử Việt Nam, mà có lẽ còn trong lịch sử thế giới nữa, xảy ra ở thế kỷ thứ 10.

Bà là con gái Dương Tam Kha, cháu nội Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, ba lần chính thức là Hoàng hậu. Lần thứ nhất của Ngô Xương Văn, sau là Nam Tấn Vương, sinh ra Ngô Nhật Khánh. Lần thứ hai của Đinh Tiên Hoàng sinh ra Vệ Vương Đinh Toàn. Lần thứ ba của quan Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, sau là vua Lê Đại Hành, nhưng khi đã bước vào tuổi già.

Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) không ghi tên thật mà chỉ ghi tên hiệu của bà là “Đại Thắng Minh Hoàng Hậu”, và ghi mất vào năm 1000.

*

 

Theo lời các cụ cao tuổi ở Đông Lỗ (xã Thiệu Long, Thiệu Yên, Thanh Hóa), trang trại của Dương Tam Kha sau khi từ Chương Dương độ chuyển về, thì bà tên là Dương Thị Ngọc Vân. Theo Hoàn Vương ca tích – tác phẩm diễn ca lưu hành ở Ninh Bình thì bà là Dương Thiệu Nga. Các cụ cao tuổi ở thôn Mỹ Hạ (xã Gia Thúy – Hoàng Long, Ninh Bình) thì bảo bà là Dương Vân Nga nhưng là con gái ông Dương Thế Hiền ở Nho Quan, Ninh Bình. Cũng ở huyện Hoàng Long, Ninh Bình, có nơi còn nói bà là con ông Dương Thái Huyền ở Vân Lung và bà Phạm Thị Thường ở Nga My, do ghép tên quê cha quê mẹ mà bà có tên là Dương Vân Nga. Cách giải thích khá văn nghệ và hiện đại này chắc là tiền đề để nhà soạn kịch Trúc Đường viết nên vở kịch cùng tên vào quãng giữa những năm 1970 – 1980. Tên Dương Vân Nga từ đấy được lưu truyền khá phổ biến. Tuy nhiên, theo Gia phả của họ Nguyễn, ở Văn Nội, Phú Lương, Thanh Oai (Hà Tây) mà chúng tôi được tiếp xúc, thì bà có tên là Dương Thị Nga, con gái của Dương Tam Kha, cháu của Dương Đình Nghệ. Theo chúng tôi, đây là nguồn tư liệu đáng tin cậy, nên chúng tôi gọi bà là Dương Thị Nga.

*

Về năm sinh của Dương Thị Nga, là chi tiết rất quan trọng nên cần được xác định, ta có thể căn cứ vào việc bà là mẹ của Ngô Nhật Khánh, để suy luận. Sách ĐVSKTT ghi: “Năm 965 Nam Tấn Vương đem quân đi đánh hai thôn Đường và Nguyễn ở Thái Bình… bị phục binh tay nỏ bắn trúng chết”. Trong hai năm 966 và 967, Đinh Bộ Lĩnh “dẹp xong 12 sứ quân” rồi “lên ngôi Hoàng đế vào năm 968″. “Tiên Hoàng dẹp yên, lấy mẹ Khánh làm Hoàng hậu, lấy em gái Khánh làm vợ Nam Việt Vương Liễn, còn lo sinh biến, lại đem công chúa gả cho Khánh, ý muôn dập hết lòng oán vọng của hắn”.

Từ đấy, có thể dự đoán vào năm 966, Ngô Nhật Khánh khoảng 20 tuổi (để có thể cầm đầu một sứ quân sau khi cha chết). Khánh là con đầu của Ngô Xương Văn và Dương Thị Nga. Nếu người mẹ sinh con khi vào khoảng 18 tuổi, thì có thể suy ra năm sinh của Dương Thị Nga là : 966 -20 – 18 = 928, với sai số tương đối là 2, tức là vào khoảng từ 926 đến 930.

Như vậy, với hai đời chồng sau, Đinh Tiên Hoàng sinh năm 924 và Lê Đại Hành sinh năm 941 (theo ĐVSKTT), thì Dương Thị Nga ở vào quãng giữa, kém Đinh Tiên Hoàng khoảng 4 tuổi và hơn Lê Đại Hành khoảng 13 tuổi.

*

Về cuộc hôn nhân lần thứ nhất của Dương Thị Nga với Ngô Xương Văn (con thứ hai của Ngô Vương Ngô Quyền) xảy ra vào thời Dương Tam Kha đang tiếm ngôi họ Ngô, ta thấy ĐVSKTT ghi: “Tiền Ngô Vương (tức Ngô Quyền) bệnh nặng, có di chúc giao cho Dương Tam Kha (anh hoặc em của Dương hậu – vợ Ngô Quyền) giúp rập cho con. Khi Vương mất, Tam Kha cướp ngôi. Con trưởng của Ngô Vương là Xương Ngập sợ, chạy về Nam Sách giang, trú ngụ ở nhà Phạm Lệnh công ở Trà Hương. Tam Kha lấy con thứ hai của Ngô Vương là Xương Văn làm con mình”.

“Làm con mình” ở đây tức là “làm con rể”: Dương Tam Kha đem con gái (Dương Thị Nga) gả cho Ngô Xương Văn để dễ bề không chế. Tuy nhiên, sau đó Xương Văn đã cùng hai tướng Dương Cát Lợi và Đỗ Cánh Thạc “quay về đánh úp Tam Kha. Mọi người muốn giết đi, Xương Văn nói: “Bình Vương (tức Dương Tam Kha) đối với ta có ơn, sao nỡ giết”. Bèn giáng làm Chương Dương công, nhân đó ban cho thực ấp…” (ĐVSKTT)

Việc Ngô Xương Văn không nỡ giết Dương Tam Kha như ĐVSKTT ghi, chính là do còn có tình nghĩa “bố vợ – con rể” và “cậu – cháu”, bởi vì trước đó, Ngô Quyền (bố của Ngô Xương Văn) cũng đã là con rể của Dương Đình Nghệ (bố của Dương Tam Kha).

Từ những điều ghi nhận trên, ta thấy cuộc hôn nhân lần thứ nhất của Dương Thị Nga với Ngô Xương Văn đã diễn ra theo cái lẽ thường tình của thời ấy, tức là do sự sắp đặt của cha mẹ. Bà chỉ là Hoàng hậu khi Ngô Xương Văn đã giữ vương quyền, và nếu không có những biến thiên lịch sử, thì địa vị Hoàng hậu của bà cũng trôi đi phẳng lặng như bao cuộc hôn nhân bình thường khác…

*

Năm 965 Nam Tấn Vương tử nạn, Ngô Nhật Khánh lên thay, nhưng thế lực mỏng không còn đủ sức khống chế được các nơi khác như thời cha ông mình, nên đành phải thúc thủ, tồn tại như một trong các sứ quân. Chính thời gian ấy, sứ quân Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư, sau khi đã liên kết với sứ quân Trần Lãm ở Bố hải khẩu, lại có trong tay “bộ tứ” (Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Trịnh Tú, Lưu Cơ) tài giới và coi nhau như anh em ruột thịt, rồi có thêm sứ quân Phạm Phòng Át ở Đằng Châu về hàng, nên đã nổi lên như một sứ quân hùng mạnh nhất. Dương Tam Kha lúc ấy đã già, không ở thực ấp được phong (Chương Dương độ thuộc Thường Tín, Hà Tây ngày nay) mà cùng gia nhân chuyển về quê cũ, xây dựng trang trại ở Đông Lỗ (Thiệu Yên, Thanh Hóa), và tuy không làm “một sứ quân”, nhưng thế lực của ông ở trong vùng cũng vẫn còn rất lớn (về uy tín, ông là con của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ từng cai quản cả đất nước và quê gốc – Dương Xá, từng nhiều năm là lò luyện võ nổi tiếng khắp vùng). Cũng thời gian ấy, sau khi chồng chết (965) Dương Thị Nga đã cùng con gái trở về Đông Lỗ sống với cha (còn Ngô Nhật Khanh thì ở lại Cổ Loa kế nghiệp Nam Tấn Vương, sau mới rút về quê gốc Đường Lâm)

Nói Dương Tam Kha khi ấy đã già, không có binh quyền trong tay, nhưng về thời thế chắc ông am hiểu và có thể biết chẳng chóng thì chầy thì Đinh Bộ Lĩnh sẽ nắm được “ngôi chủ”. Việc ông gả chồng lần thứ hai cho Dương Thỉ Nga lấy Đinh Bộ Lĩnh, như vậy là có cơ sở hợp lý.

Còn Đinh Bộ Lĩnh, khi trở thành sứ quân hùng mạnh nhất, lại có thêm Phạm Phòng Át về hàng, thì ông hiểu “sự nghiệp” của mình và các bạn bè cũng sắp hoàn thành, vì vậy, việc trước mắt của ông là đi thôn tính hoặc dụ hàng các sứ quân yếu hoặc ở biệt lập.

Các cụ cao tuổi ở Đông Lỗ (Thanh Hóa) kể: Năm 966, Đinh Bộ Lĩnh từ Hoa Lư đem quân đi đánh sứ quân Ngô Dương Xí (là con Ngô Xương Ngập, Xương Ngập là anh ruột Xương Văn. Xương Xí và Nhật Khánh là anh em thúc bá) ở Bình kiều (thuộc Nông Cống, Thanh Hóa), trên đường đã ghé vào thăm Dương Tam Kha ở Đông Lỗ (Thiệu Yên, Thanh Hóa).

Cuộc “viếng thăm” ấy của Đinh Bộ Lĩnh là có lý do: từ “tình cũ” mà tranh thủ thêm thế lực ủng hộ. Bố của Đinh Bộ Lĩnh (tức Đinh Công Trứ) trước kia là nha tướng của Dương Đình Nghệ (bố của Dương Tam Kha). Hơn nữa, Đinh Bộ Lĩnh còn hiểu rằng: Dương Tam Kha đã từng hận anh em Xương Ngập, Xương Văn về việc bị họ truất ngôi. Còn trước đó, Đinh Bộ Lĩnh đã từng cử con mình (Đinh Liễn) vào lò võ Dương Xá tuyển thêm 3000 quân tinh nhuệ Châu Ái.

Từ cuộc gặp gỡ Đinh Bộ Lĩnh – Dương Tam Kha ở Đông Lỗ mà cuộc hôn nhân lần thứ hai cua Dương Thị Nga đã được xác lập. Đúng ra, là hai cuộc hôn nhân xảy ra gần như đồng thời, giữa hai cha con Đinh Bộ Lĩnh và hai mẹ con Dương Thị Nga, như ĐVSKTT đã ghi. Khi ấy Đinh Bộ Lĩnh 44 tuổi, còn Dương Thị Nga khoảng 39 tuổi.

Theo nhận xét của chúng tôi, cuộc hôn nhân này tuy có mang “màu sắc chính trị” chút ít, nhưng chủ yếu vẫn là sự thể tất, thuận tình giữa hai bên. Về phía Dương Tam Kha và cự tộc Dương, sự tác hợp ấy là “môn đăng hộ đối”, hợp lẽ đương thời. Còn về phía Đinh Bộ Lĩnh, không phải vì ông hiếu sắc lấy bừa, cũng không phải không đủ sức đánh bại Ngộ Nhật Khánh mà phải viện đến “hôn nhân với mẹ để bức hàng con” (ĐVSKTT), mà cái chính là ông đã “nể tình cũ nghĩa xưa”, muốn qua hôn nhân để có hòa bình, chứ không muốn chiến tranh với Ngô Nhật Khánh. Không những thế, sau khi lên ngôi (968) ông còn “phong mẹ Khánh là Hoàng hậu”, “gả con gái cho Khánh” (ĐVSKTT). Như vậy là rất ưu ái. Còn việc Khánh vẫn hận mà bỏ đi, định “nối nghiệp “Đế” của cha ông”, thì đó lại là chuyện khác.

8 năm sau (974) con của Đinh Tiên Hoàng và Dương hậu được sinh ra, là Đinh Toàn. Chỉ đến năm 979, khi Đinh Liễn bất mãn với cha, ngầm sai người giết Hoàng thái tử Hạng Lang (một người con của Đinh Tiên Hoàng với bà Hoàng hậu khác, còn nhỏ tuổi, được Đinh Tiên Hoàng yêu mến) thì Hoàng hậu họ Dương mới phải lo cho số phận con trai (Đinh Toàn) của mình, và chính sự hoang mang ấy đã lọt vào “tầm ngắm” của quan Thập đạo Lê Hoàn.

*

Về lý lịch của Lê Hoàn, ở đây chỉ xin nói qua. Ông sinh năm 941, quê ở làng Bảo Thái huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam ngày nay. Cha mẹ ông là người nghèo khó, phải đi cày thuê cày mướn và sớm qua đời, khi ông khoảng 10 tuổi. Từ đấy ông phải đi tha phương cầu thực khắp nơi, rồi vào đến tận sách Khả Lập thuộc châu Ai. Sách Khả Lập ấy, bây giờ là làng Trung Lập xã Xuân Lập huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa, là quê của quan “Quan sát” (một chức quan nhỏ thời ấy) Lê Đột. Ông Lê Đột thấy Lê Hoàn lanh lợi, chịu khó, nên cho làm kẻ ăn người ở trong nhà, vài năm sau, thấy Lê Hoàn có nhiều điều hứa hẹn, mới nhận làm con nuôi. Khi Lê Hoàn khoảng 16, 17 tuổi, ông cho đến lò võ ở Dương Xá (Thanh Hóa) để theo học. Khi ấy, là vào khoảng năm 956, nếu Lê Hoàn “đã biết đến một Dương Thị Nga tài sắc và đem lòng yêu mến” như có người nói, thì theo chúng tôi, mới chỉ là “biết” qua lời đồn đại mà thôi, bởi vì khi ấy bà Nga đang ở tận kinh thành Cổ Loa và đã là Hoàng hậu của Nam tấn vương Ngô Xương Văn rồi.

Lê Hoàn tòng quân theo phò sứ quân Đinh Bộ Lĩnh trong dịp Đinh Liễn vào châu Ái tuyển mộ 3000 tinh binh ở Dương Xá. ĐVSKTT ghi. Lê Hoàn “lớn lên theo giúp Nam Việt Vương Liễn, tỏ ra phóng khoáng, có chí lớn. Tiên Hoàng khen là người trí dũng, chắc thế nào cũng làm được việc, bèn giao cho cai quản hai nghìn quân sĩ, thăng dần đến chức Thập đạo tướng quân điện tiền đô chỉ huy sứ”.

Như vậy, đến khi Đinh Tiên Hoàng chính vị (968) thì một thời gian sau, Lê Hoàn được giao chỉ huy toàn bộ đội quân bảo vệ Kinh thành Hoa Lư” Điều này cho thấy Lê Hoàn, mặc dù không phải thuộc lớp bạn bè và tham gia đầu tiên, nhưng vẫn được Đinh Tiên Hoàng tin tưởng tuyệt đối. Khi ấy ông vào khoảng ngoài 30 tuổi.

Tác phẩm diễn ca Hoàn Vương ca tích nói nhiều tới cuộc “mây mưa tình ái” giữa Lê Hoàn và Dương Thị Nga trong thời kỳ ở Kinh đô Hoa Lư kể từ sau năm 968 là năm họ Đinh lên ngôi, và cho rằng “cuộc tình” ấy đã sinh ra Đinh Toàn, nhưng có lẽ, đấy chỉ là những lời đồn đại của đời sau, rồi đem diễn ca, chứ sự thực không phải như vậy.

Theo chúng tôi, Lê Hoàn chỉ thường xuyên và công khai gặp, kể cả việc “mây mưa tình ái” với Dương hậu, là từ sau năm 979 khi hai cha con vua Đinh đã bị sát hại, Đinh Toàn làm vua, Dương hậu nhiếp chính, Lê Hoàn cũng nhiếp chính và tự xưng Phó vương. Còn trong khoảng thời gian trên 10 năm, từ 968 đến 979, ở Kinh đô Hoa Lư, tuy họ có gặp nhau, nhưng cha con vua Đinh và “bộ tứ” hãy còn, thì làm sao họ có thể công khai gặp và “mây mưa” với nhau được, đấy là chưa kể bà Nga còn hơn Lê Hoàn đến trên chục tuổi. Nhưng dẫu như vậy, thì theo cách nghĩ cách hiểu thông thường, “điều ấy” trên thực tế vẫn có thể xảy ra, và cũng chính từ đó, đã chứa đựng một “nghi án lịch sử”, liên quan tới việc ai là kẻ chủ mưu đứng sau vụ sát hại hai cha con vua Đinh?

*

Như chúng tôi đã nói: chỉ đến khi Hoàng thái tử Hạng Lang bị giết (vào mùa xuân năm 979, như ĐVSKTT đã ghi) thì quan hệ của Dương hậu với vương triều Đinh mới có “vấn đề”. Lúc này, khi chỉ còn Đinh Liễn và Đinh Toàn, thì mới nảy sinh ra chuyện “ai là người kế vị”, giữa hai bên, hai thế lực. Về phía Đinh Liễn có thể do tự cho rằng việc kế vị đối với mình là chuyện đương nhiên, nên đã không biết tự đề phòng. Còn về phía Đinh Toàn mà Dương hậu là đại diện (vì Toàn lúc ấy mới có 6 tuổi) thì sau cái chết của Hạng Lang, không thể không hoang mang. Nếu muốn lấy lòng nhà vua thì e con mình sẽ lại bị Đinh Liễn giết, còn nếu an phận thủ thường tức là không tranh giành, mà để cho thời gian trôi đi đến lúc Đinh Liễn kế ngôi, thì cũng vẫn không hứa hẹn điểu gì tốt đẹp: Khi chưa làm vua Liễn còn dám giết em, vậy thì đến khi làm vua thật, Liễn còn sợ gì ai nữa?

Ở triều đình Hoa Lư lúc bấy giờ, bạn bè thuở hàn vi trong “bộ tứ” gắn bó của vua Đinh, tuy Nguyễn Bạc có trông việc “nội trị”, Đinh Điền có giúp việc “ngoại chính” thật, nhưng lại không trực tiếp nắm quân trấn giữ kinh thành, mà tin tưởng giao cho Lê Hoàn, chỗ sơ hở chết người là ở đấy.

Chính ĐVSKTT đã hé mở cho ta câu trả lời về sự thật của vụ án ai là kẻ chủ mưu giết vua Đinh? Sách này ghi: “Hồng Hiến người phương Bắc (Trung Quốc), thông hiểu kinh sử, thường đi theo các cuộc chinh phạt, làm quân sư, cùng là khuyên vua (tức Lê Hoàn) lên ngôi, mưu bàn việc nước, có công lớn, vua tin dùng như tâm phúc”.

Như vậy, Hồng Hiến, kẻ mưu mẹo bạ thầy, đã làm quân sư cho Lê Hoàn ngay từ lúc ông chưa lên ngôi (năm 980); Còn từ khi Lê Hoàn lên ngôi, đã phong cho ông ta chức Thái sư, và đến năm 988 Hồng Hiên mới mất (theo ĐVSKTT).

Như ở trên chúng tôi đã nói: Tâm trạng hoang mang của Dương hậu sau vụ Hạng Lang bị giết, đã lọt vào “tầm ngắm” của Lê Hoàn, một người có thế lực (trông coi quân trấn giữ kinh thành) và là đồng hương của bà. Giữa họ đã nhanh chóng tạo thành mối liên hệ tự nhiên vì quyền lợi chứ chưa phải là chuyện tình ái, lại được mưu mẹo của quân sư Hồng Hiến hướng dẫn, rồi nhanh chóng biến thành một âm mưu thoán đoạt. Âm mưu thoán đoạt được triển khai, “màn kịch” được dàn dựng. Kết quả: cha con vua Đinh bị giết và nội nhân Đỗ Thích phải thịt nát xương tan và phải hứng chịu trách nhiệm trước công luận và lịch sử.

Sử gia Lê Văn Hưu, người ở huyện Đông Sơn Thanh Hóa, cùng quê với “quê thứ hai” của Lê Hoàn, khi viết về sự kiện này, đã bê nguyên si một số truyền thuyết dân gian trong vùng được chế biến sau đó vào, chứ không đặt vấn đề nghi vấn, tìm hiểu, kiểm tra để minh định lại, và do vậy, từ đấy, đã tạo thành “nghi án lịch sử”.

Làm sao có thể tin được hành động giết cả hai cha con nhà vua của Đỗ Thích chỉ bằng việc giải thích: “Đỗ Thích đêm nằm trên cầu, bỗng thấy sao sa rơi vào miệng, cho là điềm tốt, bèn nảy ra ý định giết vua” (ĐVSKTT). Đấy chỉ là câu chuyện bịa đặt trắng trợn, bởi vì ai đó, dù có dốt nát đến mức nào thì cũng hiếu giết vua không phải là chuyện nhỏ, giết xong chẳng những không được làm vua mà trái lại, cả nhà, cả họ mình sẽ bị giết. Thế mà trong ĐVSKTT lại không thấy nói tới việc dòng họ Đỗ của Đỗ Thích bị liên lụy trong việc này. Lại nữa, tại sao Đỗ Thích chỉ giết Đinh Tiên Hoàng, Đinh Liễn, mà không giết nốt cả Đinh Toàn, bởi vì sau đó, nếu còn được sống, thì Đỗ Thích sẽ thấy sẽ hiểu: người nối ngôi là Đinh Toàn kia mà!

Còn lời sấm ngữ: “Đỗ Thích thí Đinh Đinh, Lê gia xuất thánh minh…” được ĐVSKTT cho là ra đời năm 974, tức là trước đó đến 5 năm, nếu tin là có thật, thì hóa ra chẳng đã bảo rằng: cả triều Đình lúc ấy không ai có tai, không ai biết chữ và khờ khạo dốt nát không biết tự đề phòng? Sự phỉ báng triều Đinh đến mức ấy lại gắn liền với việc ca ngợi “Lê gia thánh minh” (tức Lê Hoàn) cũng từ lời Sấm ấy, theo ý chúng tôi, chỉ có thể là lời ngoa truyền của những kẻ nịnh bợ triều Tiền Lê, được chế biến ra sau sự kiện ấy, nhằm đánh lạc hướng và lừa bịp dân chúng.

Theo tư liệu của TS. Đinh Công Vĩ trong bài “Gia phả bổ xung làm minh xác chính sử” (đăng trong “Cội nguồn, tập 2): “Gia phả họ Đỗ ở Đại Đê huyện Vụ bản và sự tích đền Thảo Ma (tức đền Gạo ở xã Thanh Bình huyện Thanh Liêm) đều nói tới việc Đỗ Thích có công cõng Đinh Bộ Lĩnh chạy trốn khi ông bị Nam Tấn Vương truy đuổi. Còn lời truyền ngôn của người dân trong vùng quê vua Đinh (Hoa Lư – Ninh Bình) kể rằng: Đỗ Thích là cận vệ gần gũi của vua, đến với vua thì thấy vua đã bị giết. Thích giật mình hoảng hốt, đang định kêu lên thì quân mai phục đổ ra. Thích sợ quá treo lên máng nước trong cung trốn, sau đó thì bị phát hiện, bị bắt, rồi bị giết”.

Điều ghi nhận này cùng những điều chúng tôi trình bày ở đoạn trên, nhằm góp phần minh oan cho Đỗ Thích, bởi vì trên thực tế ông là người có công với vua Đinh, được tin dùng và có quan hệ gắn bó mật thiết với nhà vua, thì không lẽ gì lại có thể bỗng nhiên giết vua được. Chính những kẻ chủ mưu trong việc giết cả hai cha con vua Đinh đã đặt Đỗ Thích vào bẫy, để biến ông thành vật hy sinh, thành kẻ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử thay cho họ!

Dương Thị Nga mới chỉ nghĩ tới việc nhờ tay quan Thập đạo để bảo vệ và mang lại ngai vàng cho con trai mình, và ở bước thứ nhất này, bà ta đã được toại nguyện. Nhưng còn bước tiếp theo: duy trì ngai vàng, thì bà ta chưa lường hết, nhưng Hồng Hiến – Lê Hoàn thì đã trù tính xong. Việc Lê Hoàn “tự xưng Phó Vương” như ĐVSKTT ghi, là khởi đầu của cái bước tiếp theo ấy. Tiếp đó đến việc “Lê Hoàn tư thông với Dương hậu” như nhiều sách vở và truyền thuyết kể, xảy ra sau năm 979, chính là Lê Hoàn đã tiếp tục thực hiện “bước tiếp theo”, lấy quan hệ “tiền hôn nhân” để đạt mục đích: Ngai vàng. Những việc này, ngoài Lê Hoàn, chắc cũng còn có sự bàn mưu tính kế của quân sư Hồng Hiến nữa.

*

Sau khi cha con vua Đinh bị sát hại, Đinh Toàn kế ngôi, Lê Hoàn và Dương Hậu cùng nhiếp chính và tư thông với nhau(1), còn có cả việc Lê Hoàn “dời Đinh Toàn ra nhà khác, cấm cố cả nhà họ Đinh” nữa (Theo Tông sử (quyển 438) và Tục tư trị thông giám (quyển 10 và 11B) – Tài liệu của TS. Đinh Công Vĩ trong bài đã dẫn ở trên, nên từ đó mới có chuyện các công thần khai quốc của triều Đinh như Nguyễn Bạc, Đinh Điền, Phạm Hạp… dấy binh chống lại. Đây là một việc làm chính đáng và vì chính nghĩa. Chỉ tiếc, các vị này bị rơi vào thế bất lợi (lúc ấy trên danh nghĩa, Đinh Toàn vẫn là vua!), quân quyền ít, lại dùng binh vội vàng, nên đã mau chóng thất bại. Trái với Lê Văn Hưu, sử gia Ngô Sĩ Liên đã có những lời trân trọng thích đáng để ca ngợi tấm gương trung nghĩa của các vị: “Bọn họ khởi binh không phải làm loạn, mà là một lòng phù tá nhà Đinh, vì giết Hoàn không được mà phải chết, ấy là chết đúng chỗ” (ĐVSKTT).

Quân Tống kéo sang xâm lược nước ta là vào tháng 3 năm 981, tức là chỉ sau khi biết (qua “sứ giả” của họ) cha con vua Đinh bị giết, “bộ tứ” không còn, trong nước có chiến tranh, nội tình chia rẽ. Ai đó đã quy kết cho Nguyễn Bạc, Đinh Điền tội “làm gián điệp cho ngoại bang” thì chỉ là bôi nhọ công thần, bôi nhọ lịch sử. Trách nhiệm làm suy yếu đất nước khiến cho ngoại bang nhòm ngó và xâm lược, trước hết phải quy cho những người gây ra vụ thảm án giết hại vua Đinh, rồi sau đó là “cường thần nhiếp chính, người trong nước lìa làng” (ĐVSKTT). Còn nếu muốn nói đến gián điệp, thì gián điệp thực sự phải kể là Hồng Hiến, người phương Bắc, quân sư tâm phúc của Lê Hoàn.

Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, quân Tống xâm lược, nếu Lê Hoàn hành động như một trung thần, nghĩa là vẫn chỉ huy quân đội chiến đấu để bảo vệ đất nước và vương quyền cho họ Đinh, thì làm gì có “màn kịch” trao áo long cổn của tình nhân Dương Thái hậu cho quan Thập đạo. Thế nhưng màn kịch đã được dàn dựng và được hoàn tất, với sự tham gia của các diễn viên chính Dương Thái hậu, Lê Hoàn, Phạm Cự Lượng và với sự tổng đạo diễn của quân sư Hồng Hiến. Sau màn kịch ấy, Lê Hoàn chính thức làm vua, và những người “có công” được vua ban thưởng: Hồng Hiến được là Thái sư, Phạm Cự Lượng được là Đại tướng (cộng với việc trước đó Phạm Hạp, anh của Phạm Cự Lượng được tha), còn Dương Thị Nga thì sau đó ít lâu, được tái phong Hoàng hậu, tức là chính thức thành vợ của Lê Đại Hành.

Về quân sự, Lê Đại Hành quả là một tài năng phi thường, dùng binh như thần, đánh đâu thắng đó, và do vậy, đã bảo vệ vững chắc nến độc lập quốc gia. Chính điều ấy đã cứu vãn lại danh dự cho ông nhiều phần, vì vậy, các sử gia thời phong kiến cùng lắm là chỉ phê phán nhân cách của ông, như “cường thân nhiếp chính”, “rắp tâm làm điều bất lợi”, “về đạo vợ chồng có nhiều điều đang thẹn”, mất cả lòng biết hổ thẹn (Ngô Sĩ Liên) và “coi nhân dân không khác cỏ rác”, “chứa chất điều bất nhân nhiều lắm” (Lê Tung), chứ không dám truy xét đến tận cùng nghi án: ai giết vua Đinh, mà chính các sử gia này cũng thừa hiểu ông là kẻ chủ mưu. Điều này có thể giải thích: Đạo quân thần đã buộc các sử gia phải xử sự như vậy, hay nói theo cách dân gian: “vuốt mặt còn phải nể mũi” mà.

Tuy nhiên, nói cho công bằng, thì cha con vua Đinh cũng tự gây họa ra cho mình mà không biết. Ấy là việc “Tiên Hoàng yêu con thứ mà quên con trưởng”, và việc “Nam Việt Vương Liễn giết Hoàng Thái tử Hạng Lang (ĐVSKTT), tức là cha con vua Đinh đã tạo nên sơ hở để từ đó người bên ngoài mới lợi dụng vào.

Sự thật về vụ án lịch sử ai giết vua Đinh, theo ý chúng tôi, là như vậy.

Tháng 7 năm 1999

(1) Khi ấy Lê Hoàn 39 tuổi. Dương Thị Nga khoảng 52 tuổi

* Nguồn: NHÌN LẠI LỊCH SỬ, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2003, Tác giả: KS. PHAN DUY KHA – TS. LÃ DUY LAN – TS. ĐINH CÔNG VĨ.

Link:   https://vietsuky.wordpress.com/2012/10/30/189-nguoi-phu-nu-ba-lan-la-hoang-hau-va-vu-an-lich-su-ai-giet-vua-dinh/

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: