ĐIỀN DÃ, KHẢO SÁT CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ, CÁC TƯ LIỆU THÀNH VĂN VỀ: ĐINH ĐIỀN – NGUYỄN BẶC; DƯƠNG HẬU – LÊ HOÀN

TS. ĐINH CÔNG VĨ

PHẦN I: CÁC ĐỢT KHẢO SÁT ĐIỀN DÃ

Đợt 1. Đi Động Phí – Huyện Ứng Hòa – Hà Tây (trước 3-7-1997). Khi đi tìm hiểu các di tích Nguyễn Bặc ở bảo tàng Hà Tây, bà Nguyễn Thị Giang, Phó giám đốc có giới thiệu cho chúng tôi một số di tích quanh vùng giáp giới Thanh Oai – Ứng Hoà, nơi có thành Quèn thuộc căn cứ Đỗ Động Giang của Sứ quân Đỗ Cảnh Thạc. Bà Giang cho biết: “Động Phí có đình liên quan đến Nguyễn Bặc”. Bà cấp giấy giới thiệu cho chúng tôi về Động Phí.

Ở Động Phí, chúng tôi được đông đảo các cụ đón tiếp. Các cụ tổ chức cho chúng tôi lễ thành. Xem thần tích, thần phả thì chúng tôi được biết Đình Động Phí thờ Bạch Tượng Đại Vương. Thần là người địa phương. Bố mẹ thần tu nhân tích đức nên sinh ra thần. Khi sinh có ánh mây trắng hình con voi bao phủ cả vùng. Thần khôi ngô, tài giỏi, lớn lên cùng em tập hợp người địa phương giữ làng. Khi Đinh Bộ Lĩnh, Nguyễn Bặc, Đinh Điền đem quân đi dẹp giặc, thần xin yết kiến, ba vị thu nạp thần làm tướng đánh giặc. Với 500 quân thần đã đánh thắng nhiều trận. Khi đất nước thanh bình, thần cùng em xây dựng làng xóm giầu có rồi hiển thánh, được dân làng thờ làm thành hoàng. Như thế Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Bặc, Đinh Điền đã về đây thu nạp lực lượng để tăng sức cho quân Hoa Lư khi đánh sứ quân Đỗ Cảnh Thạc.

Đợt 2. Ngày 3/7 năm 1997, chúng tôi về xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Qua ông Hà Lang, Đại tá về hưu, trưởng ban sưu tầm di tích lịch sử xã, chúng tôi đến với họ Nguyễn và đình thôn Tứ Giáp(2).

Tương truyền, đình thôn Tứ thờ Nguyễn Bặc nhưng bị Pháp dỡ hồi kháng chiến chống Pháp, không còn dấu vết. Có hậu duệ dòng Nguyễn Bặc ở đây: Thời Lê Cảnh Hưng có Nguyễn Dương Tiến làm Phấn Lực tướng quân, ngày nay có gia đình cụ Nguyễn Tiến Thân, hậu duệ cụ Nguyễn Phúc Tài, từ Gia Miêu Ngoại Trang về ở thôn Tứ thời Trịnh – Nguyễn phân tranh. Sự tích Đinh Điền làng Động Xá, xã Liêm Cần cho biết: Nguyễn Bặc về làng Tứ trú quân ở chùa Long Hoa, đón anh em Đinh Điền, Đinh Bang (Bang là em Điền, người họ Nguyễn, 2 vị được ban quốc tính là Đinh). Thần phả ba vị thượng đẳng thần tôn thần làng Động Xá soạn năm Hồng Phúc Nguyên niên ngày 23 tháng Giêng cho biết ba vị là Chân Nương, Đinh Điền, Đinh Bang. Cụ Thân kể: Khi tế Đinh Điền, Nguyễn Bặc, lúc “khởi chinh cổ” (Bắt đầu nổi trống, chiêng) những người tham gia tế đều quay đít về mộ ông nội Lê Hoàn. Trong nhà cụ Thân, rạng rỡ bức hoành phi: “Tổ đức lưu phương”.

Khu mộ tổ đắp chữ “Nguyễn Tổ lăng mộ” và nhà thờ có câu đối:

“Thiên tải vĩnh truyền Nguyên phụ phả

Nhất triều tinh khởi đức tình đường”.

Tạm dịch:

Ngàn thuở mãi truyền Phả dòng Nguyễn

Một triều đổi mới đức ngời sao.

Hoặc:

“Đồng trụ tiêu danh lăng mộ tổ

Lâđài ngặt lập hiển âm linh”.

Tạm dịch:

Đồng trụ nêu danh lăng mộ tổ

Lâu đài chót vót sáng âm thiêng.

Hoặc:

“Lăng mộ phong doanh thiên c trạch

Tổ tiên hài cốt vạn niên hương”.

Tạm dịch:.

Cao dầy lăng mộ ngàn thuở đội ơn

Hài cốt tổ tiên muôn năm thơm ngát.

Để tìm hiểu thêm, chúng tôi đến đền Hạ thôn Vực. Ông Đinh Văn Chư, trưởng ban Kiến thiết đền Hạ cho biết:

Khi Lê Hoàn về Liêm Cần xây mộ tổ từ đường, Đinh Tiên Hoàng đi chơi, cho Đinh Điền, Nguyễn Bặc mỗi người một ngôi sinh từ ở thôn Tứ gần đấy để trông coi sinh từ của Đức vua. Tư liệu của Nguyễn Bặc ở đây chỉ có thế, còn phần lớn tư liệu về Lê Hoàn, Đinh Điền. Người ở Hà Nam, làng Bảo Thái huyện Thanh Liêm với một số tư liệu của họ thì cố chứng minh rằng Lê Hoàn là người quê gốc ở đây. Nhưng trong Hội thảo khoa học kỷ niệm “Một nghìn năm chống Tống” của Lê Hoàn, lại có các bài đáng chú ý, như bài “Quê hương, dòng dõi Lê Đại Hành” của nhà sử học Trần Bá Chí lại cho thấy: Đất Bảo Thái quan hệ với Lê Đại Hành chỉ là “Đất sinh phần” nghĩa là nơi vua chọn huyệt để sau an táng. Thế nhưng về sau hài cốt thật của Lê Đại Hành có táng ở Bảo Thái hay không? lại cũng là một vấn đề rắc rối, mỗi tài liệu chép một cách, rất khó xác định. Bằng nhiều dẫn liệu, Trần Bá Chí có thể nói “tóm lại” là: “về lăng mộ Lê Đại Hành, tất cả các tài liệu tin cậy đều chép vua táng ở Sơn Lăng, Trường Yên hay Hoa Lư, còn quê hương Đại Hành chỉ có lời chú của Ngô Thời Sĩ ở Đại Việt sử ký tiền biên thời Tây Sơn cho là ở làng Bảo Thái, còn tất cả các chính sử và tài liệu tin cậy đều chép Lê Đại Hành người Ái Châu, tức Thanh Hoá ngày nay”. Về bố mẹ Lê Đại Hành, nhà sử học Trần Bá Chí nêu lên ba thuyết: Thuyết thứ nhất: Xét các bản dịch từ các bộ chính sử và các bài nghiên cứu được biên soạn bằng quốc ngữ trước đây thì đều nói: “Thân phụ Lê Hoàn tên là Mịch, thân mẫu Lê Hoàn là Đặng Thị, hoặc viết: “cha vua tên là Mịch, mẹ là bà Đặng Thị”. Như vậy, cha sinh mẹ đẻ của Lê Hoàn có tên hẳn hoi. Thuyết thứ hai: Tài liệu và các cụ già địa phương thì nói: “Không rõ cha đẻ của Lê Hoàn là ai?”. Các cụ tường thuật rằng: “Vua Lê Đại Hành vốn không có cha, vua chỉ là con hoang của bà Đặng Thị”. Các văn bản ban đầu của dân làng của họ Lê ghi: “Đế phụ mịch”. Chữ ‘Mịch”, không phải là tên riêng mà chỉ để nói: “cha vua không rõ là ai?”… Ông Bá Chí phân tích: “Xét phép viết văn thư thời xưa, phàm người nào không rõ tên thì ghi là “Mịch”. Chữ “mịch” trong Hán văn là một từ gộp, một từ cấu trúc theo lối hội ý của lục thư, nêu lên nghĩa chung hai chữ “bất kiến”. “Bất kiến” nghĩa là không thấy, không rõ. Thế nhưng do chuyện quá xa xưa, nên các dịch giả đời sau đã nhầm cho “mịch” là tên riêng, tên của cha sinh ra Lê Hoàn. Xưa lại truyền rằng, do bà Đặng Thị tư tình, nên khi Lê Hoàn được hiển đạt thì mượn câu chuyện “thụ thai từ hoa sen nhà Phật” để cho nòi giống nhà vua được tốt đẹp. Chuyện này văn bia, thần tích, chính sử đều đã chép theo thế”… Ông kể theo truyền thuyết của cụ Đỗ Đình Mang, cụ Đỗ Đình Bộc ở xã Xuân Lập rằng: “Bà Đặng Thị đi làm mướn đến trưa khát nước, bà bước xuống chỗ đồng sâu, hái một ngó sen ăn cho đỡ khát. Ăn xong bà cảm thấy khoan khoái, rồi ăn luôn cả râu sen tự nhiên thấy mình đẹp hẳn lên. Đêm về ngủ chiêm bao thấy hoa sen nở trong bụng, thế là có thai, sau 13 tháng sinh ra Lê Hoàn… Lê Hoàn sinh giờ dần ngày rằm tháng 7. Sinh xong bà bế con vào rừng, vì tục làng khắt khe với đàn bà không chồng mà chửa, Hoàn được hai tuổi, bà Đặng Thị ốm nặng, gửi Hoàn cho một người họ Lê, bên làng Mía, tổng Thử Cốc làm con nuôi. Lê Hoàn có tính khác thường, nên được cha nuôi cho ăn học như con đẻ. Hoàn học giỏi, võ nghệ cao cường, mới 16 tuổi đã được tuyển vào binh đội của vua nhà Đinh. Về sau họ Lê Quan Sát đã chia thành nhiều chi, nay có 6 chi: chi Lê Đình, chi Lê Văn, chi Lê Viết, chi Lê Bá, chi Lê Hữu. Cả 6 chi con cháu đều đông đúc.

Tóm lại thuyết thứ hai nói Lê Đại Hành chỉ biết cha nuôi, không biết cha đẻ là ai.

Thuyết thứ ba: Thuyết thứ ba đảm bảo rằng: “Vua Lê Đại Hành có cha có ông rõ ràng. Cha tên là Mịch như sử chép. Ông nội tên là Lê Lộ”. Câu chuyện về Lê Lộ chẳng những là truyền thuyết tồn tại ở vùng Ninh Thái, Ung Liêm (huyện Thanh Liêm) mà còn được ít văn bản ghi chép đến.

Sách Đại Nam nhất thống chí, quyển XIII, về tỉnh Hà Nội, phần núi sông, khi viết đến chuyện núi Bảo áng, núi Tranh có đoạn như sau:

“Núi Bảo áng ở phía tây nam huyện Bình Lục, đỉnh núi bằng phẳng, Đinh Tiên Hoàng dựng hành cung ở đây, nền cũ vẫn còn. Gần đấy có núi Lập Kiếm, lại có núi Tranh, sản giống trúc hoa. Bên cạnh núi có đền, tương truyền là chỗ táng Lê Lộ, ông tổ tam đại của Lê Đại Hành”.

Đối chiếu các truyền thuyết địa phương thì ông nội tên Lộ chính là ông tránh loạn vào Liêm Cần làm nghề đơm đó, rồi chết…

Tạm thời xử lý: Qua ba thuyết trên thấy vấn đề quê hương gốc gác tam đại của Lê Đại Hành cần được làm sáng tỏ dần. Điều này còn chờ ý kiến chung của nhiều nhà sử học. Riêng chúng tôi xin mạo muội đề xuất một vài suy nghĩ xử lý như sau:

– Trước hết tôi chủ trương không gạt bỏ một thuyết nào trong 3 thuyết trên. Chúng ta nên trân trọng và thận trọng, vì mỗi truyền thuyết dù chỉ đúng một phần cũng là điều tâm huyết thiêng liêng của tổ tiên ta truyền cảm lại.

Trên cơ sở trân trọng và thận trọng đó, tôi thấy ở đây có khả năng dung hợp, gạn lọc, bổ khuyết cho nhau để có thể rút ra một sự thật lịch sử.

– Mấu chốt giải quyết được vấn đề là căn cứ ở trạc tuổi và hành trạng bà Đặng Thị. Tập hợp mọi nguồn cứ liệu và truyền thuyết thì bà Đặng Thị không phải là một cô thanh nữ, mà là một thiếu phụ, một thiếu phụ đến lúc đẻ ra Lê Hoàn thì tuổi đã cao, theo truyền thuyết thì ba bốn chục tuổi rồi. Đã thế thì rất có khả năng bà Đặng Thị đã đính hôn với chồng tên là Mịch và là cháu dâu đối với ông Lê Lộ. Rồi ông Mịch chết đi, bà có thai với người khác sinh ra Lê Hoàn, cho nên văn bản chép: “Hoàn con Mịch” cũng có lý do, mà tư phả ghi “Hoàn sinh ra không biết cha đẻ mình là ai” cũng đúng sự thật của nó. Và khi bà Đặng Thị ốm nặng sắp bỏ con, thì một người trong họ Lê ra nhận nuôi nấng, coi là cha nuôi, cũng thường tình thôi. Trong thực tế ấy Lê Hoàn phải được coi là con nhà họ Lê để ghi vào hương tịch, binh lính và sau đưa vào chính sử, không có cách gì khác. Cho nên sử sách chép Lê Đại Hành là người Ái Châu có thể có những cơ sở đúng. Châu Ái là đất Thanh Hoá ngày nay.

Đợt 3: Đi khảo sát ở Ninh Bình (từ đền Đô Thiên trở xuống huyện Yên Khánh).

Con đường mòn cỏ nhạt màu sương buổi sớm trên cánh đồng rộng ở phía tây nam thị xã Ninh Bình dẫn chúng tôi đến đền Hiềm, với bia Hạ Mã, hồ bán nguyệt soi bóng cửa đền. Đứng nơi này nhìn về bên phải có thể thấy đường cửa Lương, hướng đông bắc thấy xứ đồng Kim Sơn, xóm chùa (xưa gọi là xóm Phường Tây) có quả núi đá cao 60m đã bị phá sạch. Nền núi biến thành ruộng vườn và còn có cầu đường Cửa Lại bằng đá ba nhịp, thành cầu đục hình kỳ lân đã bị phá sạch để lấy đá đi làm việc khác. Cụ Mai Văn Thân, thủ từ đền Hiềm cho biết những cái tên Cửa Lương, Cửa Lại kia gắn chặt với một thời bi hùng của người anh hùng đầy khí tiết: Định quốc công Nguyễn Bặc. Ở cương vị đứng đầu triều chính Nguyễn Bặc thấy Lê Hoàn nắm trọng binh, tư thông với Dương Thái hậu, uy hiếp ngôi vua nhà Đinh, cấm cố cả gia đình họ Đinh, bèn kéo quân từ Thanh Hoá ra theo đường Cửa Lương (Đường Xuân Thành) qua vùng Huệ Lâm, tiến tới đường Đô Thiên, sau đó quay trở lại qua đường Cửa Lại đánh Lê Hoàn. Bị Hoàn chém đứt đầu, Ngài lắp đầu lên cổ chạy về đền Hiềm hỏi bà hàng nước rằng đứt đầu có sống được không? Bà hàng trả lời: “Xưa nay chưa có ai đứt đầu mà sống cả”. Thánh liền hoá. Vẫn cái mô típ lặp lại câu hỏi bà bán hàng nước như nhiều anh hùng ở nhiều triều đại khác (Lữ Gia, Đoàn Thượng, Lân Hổ Hầu…). Dân lập đền thờ mang biệt danh đền Hiềm. Câu chuyện không khớp với chính sử nhưng vẫn phản ánh tấm lòng thương tiếc khôn nguôi của nhân dân với bậc hào kiệt Định Quốc. Dân truyền khẩu:

“Hiềm là Hiềm hận cường thần,

Hiềm nghi Dương Thị, tần ngần Lại, Lương”.

Có truyền thuyết kể lại việc Nguyễn Bặc băn khoăn suy nghĩ, đi lại nhiều lần trên đường Cửa Lại, Cửa Lương và Đô Thiên trước khi đánh vào chỗ mạnh của Lê Hoàn.

Điều đó có hay không, khó khẳng định nhưng cảm tình của dân với ai thì đã rõ. Phải chăng vì vậy mà có cái tên muôn đời không phai: “Đền Hiềm”.

Cụ Mai Văn Thân cho biết từ xưa có 8 họ dân tìm mọi cách ngầm bảo vệ đền Hiềm gồm Đông Phối: Các họ Mai, Dương, Nguyễn, Hoàng, và Tây Phối: Các họ Đinh, Lê, Lý, Trần vì họ mến đức, nhớ ơn Nguyễn Bặc. Cách bảo vệ tốt nhất là khi thờ Nguyễn Bặc, thì tâm niện truyền khẩu thờ người nhưng dưới hình thức thờ người khác, đề phòng nhà Tiền Lê huỷ hoại. Để cho đền này dù bị phá vẫn có đền khác thờ không dứt nên xưa kia có 7 xóm với 7 đền thờ. Đến nay vẫn còn một đền Hiềm. Vào đền chúng tôi chỉ thấy hổ vàng, đôi voi, đôi ngựa, đôi rồng đá, tứ vị quan văn võ biểu hiện cho quyền lực có nét tương ứng với Nguyễn Bặc nhưng tìm chứng tích bằng văn bản thì không có. Chỉ có chứng tích thờ Tản Viên Đệ Tam Trụ giỗ ngày 22 tháng 10    với bài vị “Đương Cảnh Thành Hoàng Quý Minh đại vương, gia phong Thượng Đẳng Thần”. Có những dòng đại tự như: “Thượng Đẳng Thần”, “Tản Lĩnh giáng thần” có những câu đối như:

“C Văn Lang Tản Viên Đệ Tam V

Kim Đại Việt Phúc Am Tây Nhất Từ”

Hay:

“Vận dực Hùng đồ diên thập bát

Linh tiêu phúc địa quýnh tam thiên”.

Khi nói về cái chết oanh liệt của Nguyễn Bặc, cụ Mai Văn Thân có nhắc tới “Bát Long Tự” dính dáng đến cái chết của Người. Câu chuyện của cụ Thân chưa đầy đủ nên chúng tôi phải tiếp tục tìm hiểu thêm. Chúng tôi hỏi cụ Đào, nhà giáo tinh thông nho học, sống lâu ở thị xã Ninh Bình và cụ Nguyễn Văn Ân cũng là bậc kỳ cựu ở đất này. Cả hai cụ lý giải cặn kẽ. Căn cứ vào truyền khẩu nhân gian, truyền từ ông cha đời trước, cụ Đào dẫn chúng tôi đến khảo sát tại chỗ: Đây là bãi Vàng hiện nay nằm ở khu vực Kho Bạc Nhà nước. Phía đông Bãi Vàng là “Bát Long Tự” thờ 8 vị long thần tượng trưng cho 8 tướng đánh nhau: 4 của Đinh Tiên Hoàng trong đó có Lưu Cơ, Trịnh Tú, 4 của Lê Hoàn. Trước khu Bãi Vàng là đường Lê Hồng Phong. Đối diện với khu Bãi Vàng là Khu đền thờ gia đình Lê Hoàn đã bị phá hồi chiến tranh chống Pháp. Tại khu thờ gia đình Lê Hoàn xưa có đài “Thạch Các” để cho đôi “Lê Hoàn – Dương Thị” sánh vai nhau lên đón mừng chiến thắng quân Tống, nhận lời chúc mừng của quân dân và trăm quan. Chính trong giờ phút đó Lê Hoàn cho tay chân đặt yến tiệc có phục binh tiếp tục tàn sát nốt những trung thần của nhà Đinh còn sót lại từ sáu cuộc nội chiến và cuộc chống Tống, trong đó có Lưu Cơ, Trịnh Tú ở Bãi Vàng (Đinh Điền, Nguyễn Bặc bị giết trước chiến tranh chống Tống). Lưu Cơ, Trịnh Tú cùng hai bộ tướng trên đường đến mừng chiến thắng thì bị phục binh đánh ở Bãi Vàng.

Các ông chiến đấu đến cùng, bị giết sau khi đã giết được 4 tướng của Lê Hoàn. Dân lập “Bát Long Tự” để giải oan cho 8 tướng đã “quần nhau” ở đây.

Truyền thuyết ấy đã được các nhà nho thời trước diễn tả thành thơ. Chúng tôi đã được cụ Đào người thị xã Ninh Bình đọc cho chép bài thơ truyền khẩu khuyết danh với nhau đề “Bát Long sự tích ca” sau:

“Sau ngày thắng Tống vui mừng

Tiền Lê đặt hội tưng bừng đàn ca

Trên Thạch Các cờ hoa lộng lẫy

Dưới nền đài vang dậy quân reo

Cổn bào rạng rỡ rồng thêu

Lê Hoàn – Dương Thị sánh nhau lên đài

Mắt hoan hỉ nhìn đời may mắn

Tay vy dân lòng vẫn đắn đo

Cơ mưu bàn luận nhỏ to

Mừng may vua chết, giặc dò vào ta

Gặp dịp vui lập ra triều mới

Trẫm cùng nàng phơi phới bên nhau

Thoả nguyn tình ngoại bao lâu

Nay mong Đế – Hậu trước sau vẹn toàn

Nên diệt nốt trung thn Đinh tộc

Cơ, Tú kia ngang dọc đáng lo

Hai người uy tín công to

Muôn dân ngưỡng vọng cần cho chu trời.

Kia Bãi Vàng là nơi hội kiến

Mời chúng ra ăn yến giết di

Tú – Cơ chẳng chút hiềm nghi

Cùng hai bộ tướng ngựa phi sang liền

Đây Bãi Vàng cửa Tiền đặt lễ

Rượu thịt tràn đàn, sáo lừng vang

Ba cửa binh phục trùng trùng

Một con chim nhỏ bay tung khó vào

Bốn tướng đến mừng chào ứng đối

Rượu nửa chừng binh nổi quân reo

Gặp khi thế tận cũng liều

Tú – Cơ, bộ tướng đưa nhau vẫy vùng

Giết tướng Lê kiêu hùng bốn vị

Rồi hy sinh, dũng khí ngập tràn

Tám người xáo thịt hờn oan

Cũng vì sâu hiểm dựng dàn phụ – phu

Giải oan, dân lập chùa kính cẩn

Tên Bát Long rửa hận tiếc thương

Muôn đời nghi ngút khói hương

Muôn đời sáng tựa tấm gương Bặc – Điền

Dân gian còn có câu:

“Bặc – Điền – Cơ –Tú hiên ngang

Trịnh, Lưu sau lại bãi vàng hy sinh

Hai người đi trước quang minh

Hai người sau sáng lung linh cõi bờ”.

Những câu thơ đó đã được nhà văn Hoài Việt sử dụng công bố trong sách “Định quốc công Nguyễn Bặc, quan Thái tể triều Đinh”, do Nhà xuất bản Văn nghệ, Tp Hồ Chí Minh in, cho rằng “Lê Hoàn đã làm cái việc “nhổ cỏ thì nhổ cho hết rễ” thật là tàn ác!”

Dân gian cũng truyền thế:

“Điền quân sự tham mưu Ngoại Giáp,

Bặc đứng đầu đền đáp nghĩa ân.

Lưu Cơ Đô Hộ sức thần,

Trịnh Tú ứng đối xa gần mến danh.

Bốn tinh tú can thành vì chúa,

Thắm tình xưa trọn nghĩa cờ lau.”

Để rõ hơn những truyền tụng dân gian, chúng tôi tìm đến Bát Long Tự nhưng nơi này đã đô thị hoá, chỉ có nhà cao tầng.

Theo Báo Văn hoá Ninh Bình số Xuân 1996 trang 46 cột 3 kể rằng Đẩu Long Tự đã được xếp hạng di tích lịch sử ở đó có miếu thờ Nguyễn Bặc. Chúng tôi đến Đẩu Long Tự. Đây là hình Long trên nước giữa sân, có những câu đối như:

Đu Long Thảo thụ lưu kỳ tích

Phúc địa Hoa đình xứ hữu dư.”

Cổng gác chuông 2 chồng diêm 8 mai ghi “Đăng Long Môn” nhưng không tìm thấy rồng của thời “Thu giang sơn về một mối” tử tiết oai hùng của Định quốc công. Chúng tôi chỉ thấy điện thờ Phật, miếu thờ hai vị anh hùng thời hào khí Đông A. Rõ ràng không đúng như báo Văn hoá Ninh Bình số Xuân 1996.

Vượt qua thị xã xuống huyện Yên Khánh theo đường 10, chúng tôi đến miếu Đông Thượng xã Khánh An (xưa thuộc tổng Yên Lưu, phủ Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình). Miếu ít bị tàn phá, nẳm giữa cánh đồng, cây cối âm u. Trước cửa miếu có giếng cổ, sân rộng, núi non bộ càng làm tôn vẻ cổ kính của một toà miếu cổ xếp theo hình chữ tam, gồm miếu Thượng (thờ Nguyễn Bặc). Miếu Trung (thờ Phúc thần), Miếu Hạ (thờ Đinh Điền), nổi bật lên những câu đối như:

“Đết hống phù Đinh khai Cổ Việt

Thần lưu bảo xích trước Nam thiên”

(Theo dòng đế thống phù nhà Đinh mở ra nước Đại Cồ Việt

Thần che chở bảo vệ cho dân làng sáng trời Nam).

Đáng nhớ nhất là đôi câu đối của: Tứ Nhâm Thìn khoa Đệ nhất giáp Thám hoa Quang Lộc Tự Thiếu Khanh, lĩnh Ninh Bình Đốc học Vũ Phạm Thành:

“Cảm hội Phong vân Phù Đế thống

Hoá sinh lôi vũ hách thiên thanh.”

(Cảm thụ gió mây của trời, tôn phù dòng đế chính thống

Khi hoá sinh làm nổi sấm chớp gió mưa chói lọi trời xanh).

Câu này ứng với truyền thuyết dân gian:

“Khi Nguyễn Bặc bị Lê Hoàn sai quân đưa đi hành hình, bỗng gió mưa sấm chớp nổi lên đùng đùng làm cho bọn đao phủ tan tác kinh hoàng. Lúc trời tạnh đã thấy thuyền của dân đưa thi hài Nguyễn Bặc đi an táng”.

Cũng trong huyện Yên Khánh chúng tôi đến chùa Thiên Hựu (Vạc) nơi thờ cụ Đinh Thân người sinh ra anh hùng Đinh Điền. Theo ông Đinh Ngọc Lục người am hiểu Hán tự ở địa phương, thân phụ Đinh Điền người ở Hà Nam ngày nay, ông lấy bà Dương Thị Liễu người ở Yên Phú sinh ra Đinh Điền. Sau khi vua Đinh chết, Đinh Điền về đây ẩn dật, chuẩn bị lực lượng cùng Nguyễn Bặc kéo binh ra hỏi tội kẻ tiếm đoạt. Trong chùa có ngai thờ song thân Đinh Điền, ở trong cỗ Long Cung có tượng song thân thánh nhưng quá nhỏ.

Chùa có những câu đối như:

“Khải thánh phù Đinh Giang Nam cứ

Bản quốc nam thành Cồ Việt an”

Tạm dịch:

Mở vận cho bậc thánh phù nhà Đinh giữ phía nam sông,

Bảo vệ nước giữ thành nam làm Đại Cồ Việt yên.

Hay:

“Hu tự quang minh sơn thủy tú

Phật đài quảng đại ngọc kim liên”

Nghĩa là:

Chùa Hu rực sáng non sông đẹp

Phật đài mở rộng ngọc sen vàng.

Phù hợp với cảnh sen vàng, non sông gấm vóc ấy. Trước mặt chùa là sông Vạc xanh biếc vang vọng mãi vần ca dao:

“Lập linh tự, mãi k điền

Vạc giang quê quán, miếu thuyền thần cao”.

Sự tích, địa danh gắn với Đinh Điền, người bạn chiến đấu thân thiết của Nguyễn Bặc, nơi tích tụ gỗ để đóng chiến thuyền, chuẩn bị chống lại kẻ tiếm loạn.

Lên phía Bắc, đi theo con đường thôn Thư Điền, xã Ninh Nhất (xưa là thôn Đống Cao, xã Giá Hộ) chúng tôi tìm đến chùa Hưng Long tìm xem chín đạo sắc phong của Đô Thiên Đại Thánh ở đền Đô Thiên (cũng trong thôn này), để ở chùa Hưng Long, sắc phong thời Cảnh Hưng 44, Minh Mạng 5, Thiệu Trị 4, Tự Đức 20, Duy Tân 3, Khải Định 9… Men theo đường ruộng song song với đường I, sát dãy núi đá phía Tây Nam thị xã Ninh Bình, chúng tôi vào đền Đô Thiên dâng lễ vật lên bàn thờ Thánh.

Truyền thuyết dân gian nói nơi này có vết máu Định quốc công ở cạnh đường Đô Thiên. Trước kia, chỗ có vết máu có dựng bia hạ mã và gần đó là ngôi đền. Hiện nay ngôi đền vẫn khang trang, có nhiều đồ thờ bằng đá, bệ thờ rất đẹp chỉ có nhà tiền tế là không còn nữa. Cụ Từ đã đi với chúng tối suốt ngày và nói: dân chúng tôi vẫn kể “Đây là nơi thờ Thánh Nguyễn Bặc dù bài vị lại ghi là thờ đức Đô thiên”.

Đợt 4 – Đi các xã còn lại của huyện Hoa Lư và huyện Gia Viễn: Chúng tôi cùng đi với hai vị Chánh phó giám đốc Bảo tàng Ninh Bình: Đặng Công Nga, Nguyễn Văn Trò đến xã Ninh Hòa, huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình. Con đường hẹp láng xi măng vòng vèo làm chúng tôi phải xuống ô tô đi bộ vào đình Ngô Khê Hạ. Mặc dù sân đình rộng, có hồ thoáng phía trước, cây xanh, cảnh thanh nhã nhưng nhà hậu cung không còn nữa. Tượng thờ Định quốc công Nguyễn Bặc cũng phải mang đi, chỉ còn trơ trọi lại tòa tiền tế 5 gian. Những câu đối của đình chữ còn chữ mất:

“Vạn đại hương đăng kỳ ngưỡng càn […]?

Thiên thu trở dậu trạch hoằng thi…”

Trong xã còn đình Ngô Khê Thượng, đình Thanh Khê Thượng, đình Thanh Khê Hạ đâu rồi? Tất cả đã biến mất theo thời gian. Thay vào đó là nhà dân, đường xá dọc ngang.

Chúng tôi nghe kể có miếu ở bờ sông gần đấy thờ Nguyễn Bặc. Hỏi ra mới biết miếu đã bị phá hoàn toàn. Đáng tiếc thay! Đây là chứng tích bất tử của trang sử bi hùng cuối đời bậc anh kiệt định quốc. Sự kiện diễn ra tương ứng với câu đối của Vũ Phạm Thành ở Khánh An. Miếu đó nằm trên bờ sông Chanh thuộc đất Ngô Khê Hạ. Sông Chanh nối liền sông Hoàng Giang với sông Vân Sàng, con sông từng một thời chứng minh cuộc hành hình bất chính của Lê Hoàn với Nguyễn Bặc. Sau cuộc hành hình bỗng phong ba bão táp đùng đùng nổi lên, trời đất mịt mù làm cho quân của kẻ loạn thần tan tác bỏ chạy. Khi trời quang mây tạnh thì thấy một cái thuyền đi về phía sông Hoàng Giang, đưa thi hài Định quốc công về quê an táng.

Một miếu khác nữa nằm trong địa phận xã Ninh Hòa cũng thờ Nguyễn Bặc và cùng đi theo số phận của miếu trên bờ sông Chanh.

Nhưng may thay, vẫn còn sót lại một tượng gỗ sơn son thiếp vàng, to hơn người thật được chuyển từ đình thôn Ngô Khê Hạ về đang thờ ở nhà thờ Lũng Nhai Công thần Nguyễn Lý cũng ở thôn này. Chúng tôi được tận mắt nhìn thấy 10 đạo sắc phong, 1 bản sao của Bộ Lễ. Các sắc đều ghi:

Sắc Đinh Đinh quốc công… và giao cho 4 thôn Ngô Khê Thượng, Ngô Khê Hạ, Thanh Khê Thượng, Thanh Khê Hạ thờ.

Các sắc này do hậu duệ Định quốc công ở đây giữ.

Hoàn thành nhiệm vụ ở xã Ninh Hoà, huyện Hoa Lư, chúng tôi lại cùng hai vị Chánh, Phó Giám đốc Bảo tồn Bảo tàng Ninh Bình đi về Gia Viễn. Vào Phòng Văn hóa Thông tin Gia Viễn, chúng tôi báo cáo với ông Nguyên, Trưởng phòng Văn hóa Thông tin Gia Viễn về chuyến đi và mời Phòng tham gia khảo sát. Ông Nguyên bận, nên chúng tôi về thôn Vĩnh Ninh, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, thăm nhà thờ Nguyễn Bặc. Ngôi nhà thờ ba gian lợp ngói ta do con cháu cụ Nguyễn Tài Nông từ Gia Miêu Ngoại Trang ra đây trông nom mộ tổ lập nên ở giữa làng, cạnh sông Hoàng Long. Cùng dãy với đền Vua Đinh, chùa thờ thánh Nguyễn Minh Không, thờ ở thế nương tựa nhau, xoay quanh cảnh trí hào hùng gắn bó với miền phát tích đế vương của đất Đại Hoàng mãi mãi còn âm vang câu:

“Đại Hữu sinh vương – Điềm Giang sinh thánh”.

Trong nhà thờ, ở vị trí trung tâm nổi bật lên bức hoành phi hoành tráng:

“Khởi Nguyên Đường”.

Sau khi làm lễ dâng hương, chúng tôi bàn luận say sưa những câu đối nổi tiếng mà các nhà khoa học xã hội cả nước không mấy ai không biết:

“Cồ Việt thiên khai, chủ hữu anh hùng, thần tráng liệt.

Đại Hoàng địa tú, gia vi khởi tổ quốc nguyên huân”.

(Nước Cồ Việt, trời mở ra, làm chúa anh hùng, làm tôi tráng hệt.

Đại Hoàng đất gấm vóc, ở gia tộc làm bậc khởi tổ, ở nước làm bậc nguyên huân).

 “Vdực viêm giao Cồ Việt Quốc

Thế truyền thang ấp phụ nguyên gia”

(Nước Đại Việt xây nền Viêm Quốc

Nguyễn tộc đời truyền ấp mộc thang)

 “Hoa Lư kết nghĩa anh hùng chúa

Đại Hân khâm tướng quc công”

(Chúa anh hùng Hoa Lư kết nghĩa

Tướng quốc công Đại Hữu kính ơn)

“Thiên Thu ẩn hiện sơn hà cựu

ức tải lưu truyền cảnh sắc tân”

(Nghìn thu ẩn hiện non sông cũ

Muôn thuở lưu truyền cảnh mới tươi)

 “Duệ xuất Gia Miêu vương tích hiển

Khánh lưu Đại Hữu tướng môn quang”

(Hậu duệ đến Gia Miêu phát tích ra vương triều hiển hách

Dòng phúc ở Đại Hữu cửa tướng rực rỡ vinh quang)

Chuẩn bị ra về, chúng tôi đến thăm mộ Nguyễn Bặc, gọi tôn kính là “Mộ Tổ”. Mộ Người nằm giữa cánh đồng Vườn Chùa, trên gò con cá chép, nhìn ra cửa sông Hoàng Long đổ vào sông Đáy. Phía sau Mộ tựa vào Núi Lân đúng với lời thơ: “Núi tựa Lân cao đá trập trùng” có núi Hổ chầu về. Đứng thắp nhang ở Mộ Người chúng tôi vẫn nhìn thấy núi Lân hùng vĩ nơi có mộ phát tích nhà Đinh nằm ở Thung Vua trên lưng chừng núi Lân, cách mặt đất gần 50 mét ở cạnh sông Hoàng Long. Và mộ phát tích Họ Nguyễn có núi Hổ chầu vào. Tất cả đều ở thế chân đạp sóng, đầu tựa núi như cái thuở ban đầu hai vị thủ hiểm ở Hoa Lư, dựa vào thế đất hùng vĩ trước khi xông ra thu gồm non sông 12 xứ. Sống đã thân thiết trung thành với nhau, chết cũng gắn bó với nhau: Vua Lân Tướng Hổ, răng môi gần gũi như vậy, khiến chúng tôi vô cùng xúc động.

Đợt 5 – Đi Nam Định: Đến Nam Định, nhờ ông Quýnh, chúng tôi được tiếp xúc với các vị trong Hội Văn học nghệ thuật Nam Định, các vị trong Hội văn hóa dân gian Việt Nam người Nam Định như ông Hồ Thọ… Quan niệm với các vở kịch, vở chèo về Nguyễn Bặc của các vị ở đây giống chúng tôi. Các vị khẳng định viết như Trúc Đường và Lê Duy Hạnh là không đúng sự thật lịch sử. Có vị giới thiệu đền An Lá và vùng Vụ Bản (chợ Gạo) nhưng ông Dương Văn Vượng người làm công tác thống kê di tích lịch sử ở Hà Nam Ninh và đã công tác ở Bảo tàng cho rằng có sự nhầm lẫn. Ông Dương Văn Vượng cung cấp thông tin: ở Hà Nam Ninh cũ có 134 nơi thờ (và phối thờ) Nguyễn Bặc. Để kiểm tra tự liệu này thì tốn rất nhiều công sức. Ở Nam Định đền thờ riêng Nguyễn Bặc không có, còn thờ phối thì nhiều, ở sở Văn hoá thông tin Nam Định, các ông Chánh, Phó Giám đốc sở đều vắng nhưng ông Trưởng phòng Tổng hợp đã thu xếp cho chúng tôi làm việc với Bảo tàng Nam Định. Được các cán bộ Bảo tàng hết sức giúp đỡ, chúng tôi đã được nghiên cứu quyển Thống kê di tích lịch sử Hà Nam Ninh. Qua thống kê, đúng như nhận định của chúng tôi: Nơi nào có đền thờ vua Đinh là có phối thờ Đinh Điền, Nguyễn Bặc:

Đền thờ vua Đinh ở thôn Phúc Chỉ xã Yên Thắng, Ý Yên, đền này thờ cả tứ trụ nhà Đinh: Đinh Điền, Trịnh Tú, Lưu Cơ và Nguyễn Bặc.

Đình Ninh Tảo thờ Quý Minh và Đỗ Thích đời Đinh.

Đền Ba Dân ở huyện Kim Bảng cũng thờ vua Đinh và Nguyễn Bặc… Nói chung nơi phối thờ Nguyễn Bặc thì không kể xiết, ông Dương Văn Vượng cũng thống nhất với chúng tôi chính nơi Nguyễn Bặc bị giết là nơi thờ Người nhiều nhất.

Đợt 6 – Đi Thanh Hoá: Việc tìm hiểu Thái hậu Dương Thị là điều mà chúng tôi hết sức quan tâm vì đó là nhân vật có quan hệ trực tiếp với Đinh Điền, Nguyễn Bặc. Chúng tôi đã tìm hiểu truyền thuyết về bà Dương Thái hậu, thì được biết vùng Phụng Hoá (Nho Quan) tại Nam Định và Ninh Bình có chỗ lưu giữ sự tích này. Chúng tôi không thể không tìm hiểu vùng quê Giáp Mau, xã Thiệu Long, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Thanh Hoá, quê của Dương Thị Ngọc Vân, con gái Dương Tam Kha (ở tác phẩm “Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước” – PGS. Nguyễn Danh Phiệt, trang. 104, 105, 106, 107 đã cho biết một số nét có thể tham khảo), chúng tôi cho rằng việc khẳng định Thái hậu Dương Thị có tên là Dương Vân Nga thì chưa thoả đáng.

Chúng tôi có mời ông Nguyễn Quang Trung, cán bộ Phòng Địa phương, Viện sử học và một cán bộ ở Phòng Văn hoá Thông tin Thành phố Thanh Hoá cùng đi. Vào Ủy ban huyện Thiệu Hoá trình giấy, chúng tôi được ông Phó Phòng Văn hoá Thông tin Thiệu Hoá dẫn đường. Tuy là người trong huyện, ông Phó Phòng không biết Giáp Mau ở đâu. Qua nhiều lần hỏi thăm chúng tôi tới được thôn Đông Lỗ. Để ô tô lại, chúng tôi đi bộ vào Giáp Mau vì đường độc đạo và rất hẹp.

Giáp Mau là vùng đất cổ, từng đào được trống đồng, kiếm sắt, tiền cổ… Giáp Mau là đất bản bộ của Dương Tam Kha, con trai Dương Đình Nghệ. Chúng tôi xem cuốn gia phả cổ, rách nát của nhà họ Dương. Họ Dương là hào trưởng đất này từ xưa, nên ở đây có nhiều người họ Dương sinh sống. Xung quanh Giáp Mau ba mặt là Mau (sông cụt), chỉ có phía sông Cầu Chày có đường nhỏ vào làng. Thật xứng là đất thủ hiểm của họ Dương ngày xưa với các lò luyện võ nổi tiếng. Truyền thuyết kể, lúc trai trẻ, Lê Hoàn về học võ và kiếm sống, có gặp con gái Dương Tam Kha là bà Dương Ngọc Vân (mà về sau văn học nghệ thuật thêm thắt thành cái tên Dương Vân Nga). Việc hôn nhân không thể thành vì Dương Công không thể gả con gái cho kẻ bần cùng, không biết cha sinh. Sau đó, có tư liệu cho là Dương Thị Ngọc Vân lấy Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn, sinh ra sứ quân Ngô Nhật Khánh. Bị Đinh Tiến Hoàng bức hàng nên bà lấy vua Đinh như trong gia phả họ Đinh và họ Ngô đã ghi: Khi dẹp sứ quân Ngô Xương Xí, con trai Ngô Xương Ngập, Đinh Bộ Lĩnh đã về đây gặp Dương Tam Kha để nhờ Dương Công góp sức…

Do uy thế họ Dương rất lớn, nên trước năm 1945 ông trưởng họ Dương bao giờ cũng được nhận phần đất tốt trong số 290 mẫu công điền, sau đó ruộng còn lại mới chia cho dân làng. Các cụ già nói chuyện với chúng tôi khẳng định điều đó. Chúng tôi tán thành ý kiến của PGS. Nguyễn Danh Phiệt (sách trên trang 107): Cho Thái hậu Dương Vân Nga là con ông Dương Thế Hiển là gán ghép. Nhưng “Dương Vân Nga” lại có người đang ca tụng như là anh hùng dân tộc, trong khi ngay truyền thuyết cũng nói rất sơ sài, thế mới biết “tài biến không thành có” của ông Trúc đường? Chia tay đông đảo bà con họ Dương, nhất là đông đảo trẻ em hồn nhiên và còn thơ ngây nữa, chúng tôi nghĩ: bao giờ các em được hiểu rõ sự thật về các truyền thuyết quê hương mình? (có ảnh chứng minh). Chúng tôi càng tin rằng: truyền thuyết dân gian về việc Dương Thị ngoại tình với Lê Hoàn trước khi đến Hoa Lư, khi Đinh Tiên Hoàng còn sống và Dương Thị có 3 đời chồng là có thể có thực. Vậy việc nàng Dương dâng áo cho chàng Lê không làm ta lạ lùng.

Đợt 7 – Vùng Thanh Trì: Có đình Yên Ngưu, đình thị trấn Văn Điển, đình Ba Dân, đình Trung và đình Đông Trì. Theo dân và hồ sơ công nhận di tích lịch sử thì đây là đình thờ thành hoàng Nguyễn Bồ, Nguyễn Bặc.

Cuộc họp các cụ toàn xã nhân lễ hội năm 1992 đã khẳng định:

– Đức Thánh Cả ở đây là Nguyễn Bồ, người đem quân đánh sứ quân Nguyễn Siêu và tử trận ở Cầu Dạ (nơi có đền Trung).

Đức Thánh Hai là Nguyễn Bặc, người đánh tan quân Nguyễn Siêu ở đây.

Đình Trung: Nằm cạnh thôn Cổ Điển, sát cầu Dạ Cầu nay là cống nhỏ. Đình bị phá hoàn toàn năm 1957, nay dân góp tiền xây lại rất khang trang: Tường hoa, cột nanh có câu đối, nhà thiên hương 8 mái, đầu đao cong vút, nhà tiền tế 5 gian nền cao, hậu cung chuôi vồ… tất cả đều bằng xi măng, cốt sắt nhưng rất hài hoà và dáng vẻ cổ kính.

Đền Yên Ngưu: Bị bọn Mỹ phá huỷ hoàn toàn chỉ còn lại 2 câu đối và một phần cửa võng trạm trổ tinh vi. Số sắc phong để nơi khác. Yên bom đạn, dân góp ngay tiền làm lại 3 gian gỗ xoan nhưng khá to để thờ thánh. Nay đã được công nhận là di tích lịch sử.

Đình Đồng Trì: Thờ vọng Thành Hoàng Nguyễn Bồ, Nguyễn Bặc, có nhà tiền tế 5 gian, hậu cung 3 gian, sân rộng, trước có vườn hoa rộng. Đình ở cạnh làng, thoáng mát, rộng rãi. Ở đây có cỗ kiệu bát cống rất đẹp và còn như mới.

Đình thị trấn Văn Điển: Trước kia ở khu nhà hàng “Hàng công nghiệp Văn Điển”. Năm 1957 bị phá. Nay dân đóng góp hàng tỷ đồng xây lại ngôi đình to lớn ở cạnh con đường vào làng Cổ Điển. Đình xây bằng bê tông cốt sắt cũng đủ kèo, cột, mái cong, có hậu cung, nhà tiền tế, sân rộng rãi, tường hoa, cột lồng đèn to đẹp.

Đình Ba Dân: Trong năm đình này thì đình Ba Dân là khang trang, bề thế nhất. Cổng đình đề “Tam xã linh từ”.

Sân vườn rất rộng cây cối um tùm.

Trong đình không thấy bài vị Nguyễn Bặc. Rõ ràng dù khó khăn đến đâu, hình ảnh hai tướng nhà Đinh: Nguyễn Bồ và Nguyễn Bặc vẫn mãi mãi bất tử ở chiến trường xưa, tiêu diệt Nguyễn Siêu. Hình ảnh trường tồn đó như những bức hoành phi sơn son thếp vàng treo cao:

“Thiên địa chính khí – Văn võ thánh thần”.

Nhân dân thờ và tự hào với sự tích đức thánh của họ như đôi câu đối:

“Duy nhất tâm ái quốc trung quân chính thống phù Đinh khai đế Việt

Xướng vạn thế danh thần nghĩa sĩ uy danh bình sứ lẫm thiên Nam”.

(Chỉ một lòng yêu nước trung vua, chính thống phù Đinh mở ra đế Việt [nước Việt có hoàng đế]

Lừng vận thế danh thần nghĩa sĩ uy danh dẹp sứ quân vang dội trời Nam).

Ngoài các đợt điền dã trên, chúng tôi còn tiếp tục tìm vào nhiều nhà thờ họ ở nhiều nơi có thờ viễn tổ Nguyễn Bặc. Số lượng nhà thờ họ Nguyễn Bặc nhiều, vì hậu duệ đông, con cháu phân tán nhiều nơi chưa thống kê cụ thể được.

Tài liệu sách vở: Chúng tôi đi vào kho sách Hán Nôm, kho sách chữ quốc ngữ nói về Nguyễn Bặc. Đặc biệt chúng tôi quan tâm đến sách Tiếng Việt xuất bản ở Ninh Bình gần đây của sở Văn hoá Thông tin Ninh Bình.

Các cuốn sách của Ninh Bình xuất bản gần đây chịu ảnh hưởng của việc “xây dựng con người có cái tên Vân Nga thành anh hùng dân tộc” nên đưa ra nhiều ý kiến không thống nhất với ý kiến chúng tôi.

Truyền thuyết Hoa Lư – tác giả Trương Đình Tưởng – Lê Hải (trang 90) không nói rõ xuất xứ của truyền thuyết nhưng lại nói: Các đại thần – hoàng tộc âm mưu giết hại vua Đinh và Đinh Liễn để đưa mẹ con Dương Vân Nga lên nắm quyền. Chúng tôi thấy đoạn này rất không đúng với lịch sử. Nhân dân Ninh Bình xưa nay khẳng định Đinh Bộ Lĩnh và bốn tướng đặc biệt là quan tứ trụ của ông: Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ là người của mình, là tinh hoa của đất Ninh Bình, là ruột thịt của đất Ninh Bình, nên không bao giờ có một sự nghi kỵ nào trong quan hệ của năm người. Chính sử bao gồm cả Việt Sử lược, Đại Việt Sử ký toàn thư, Cương mục, Thiên Nam ngữ lục… không hề có một ý nào nêu lên sự rạn nứt trong quan hệ giữa Đinh Tiên Hoàng và tứ trụ. Các hoàng tộc nhà Đinh hẳn không dại gì giết người sáng lập ra vương triều mang họ mình để cho chính hoàng tộc của mình sụp đổ. Với sự thật lịch sử như trên, câu truyện truyền thuyết mà hai tác giả Trương Đình Tưởng và Lê Hải đưa ra nhưng không nêu rõ xuất xứ, thì hẳn là khó có thể chấp nhận.

Phải chăng, câu chuyện truyền thuyết trên đã sinh ra sau khi vở chèo “Thái Hậu Dương Vân Nga” được phát trên Đài truyền hình. Lúc đó truyền thuyết: “Các đại thần và hoàng gia nhà Đinh giết hai cha con Đinh Bộ Lĩnh để đưa Dương Thái hậu và Đinh Toàn lên ngôi” mới có cơ sở phát sinh.

Nếu chúng ta cho rằng các đại thần đây là quan Thập đạo tướng quân Lê Hoàn cùng một số tướng tá dưới quyền ông ta như Phạm Cự Lượng thì đây không phải là số đông đại thần nhà Đinh, không đại diện cho triều đình nhà Đinh, mà chỉ là một số quan lại nắm được binh quyền, tiếm ngôi nhà Đinh để lập lên nhà Lê. Trong sử đã từng có câu:

“Bặc – Điền vì nước liều mình,

Cớ sao Cự Lượng tán thành mưu gian”.

(Chúng ta có thể xem trong “Việt sử tiêu án” của Ngô Thời Sĩ có những câu phê phán Phạm Cự Lượng).

Cả bốn vị tứ trụ triều đình, sau khi Vua Đinh bị giết đã gồng vai gánh trách nhiệm cố giữ cho triều Đinh ổn định. Nhưng triều đình nhà Đinh có một cái sai rất lớn: Binh quyền trong nước không nằm trong tay Đinh Tiên Hoàng, Đinh Liễn hoặc một vị trong bốn quan tứ trụ là những người cùng nhau ra sống vào chết trong suốt cả cuộc chiến tranh thống nhất đất nước, mà lại nằm trong tay quan Thập đạo tướng quân Lê Hoàn người mới theo nghĩa quân Hoa Lư từ khi Đinh Liễn vào Thanh Hoá mộ quân. Rõ ràng truyền thuyết trên đã nêu cho chúng ta rất nhiều điều ngờ vực, nhưng dù sao cũng không thể làm cho quan hệ giữa vua tôi nhà Đinh xấu đi.

Các truyền thuyết như trên cùng với sự hư cấu trên sân khấu chèo: “Đinh Điền, Nguyễn Bặc đòi dâng áo bào cho triều đình nhà Tống” (ý nói đầu hàng) thật là rất non kém. Các tác giả vở chèo này rất giỏi hư cấu trong văn nghệ nhưng trong lịch sử thì hoàn toàn khác: Dương Thái hậu khoác áo bào của Đinh Tiên Hoàng cho Lê Hoàn nói lên sự nhất trí hoàn toàn của bà trong việc trao cơ đồ nhà Đinh cho người tình của mình.

Với nhà Tống, chiếc áo bào cũ không tượng trưng cho cái gì cả. Xưa kia người ta lấy ấn báu, gươm vàng cùng sổ sách quân dân, bản kế của cái kho tàng là tượng trưng cho đất nước. Khi vua Bảo Đại thoái vị, đồng chí Trần Huy Liệu thay mặt cho cách mạng vào Huế nhận ấn kiếm của Bảo Đại tại Lầu Ngọ Môn là tượng trưng cho việc bàn giao chính quyền. Đồng chí Trần Huy Liệu không hề nhận một chiếc áo nào của Bảo Đại cả!

Văn nghệ là văn nghệ, sử là sử, không thể lẫn lộn được.

Sự thực khi vua Đinh và Đinh Liễn bị giết – Đinh Toàn chỉ là hư vị – Nhà Đinh đi lên đã bị đánh đổ, Lê Hoàn cấm cố cả gia đình họ Đinh, tư thông với Dương Thái hậu nắm quyền hành lúc này (lời chính sử). Nhà Đinh chỉ còn độc nhất chiếc “áo bào” chứ có gì đâu! Trong quyển “Bảo tàng Ninh Bình” dù Đặng Công Nga ca tụng truyền thuyết: Dương Thị đưa đón Lê Hoàn ở Phúc Thành Cảng (và đặt giường tiếp Lê Hoàn ở sông Vân Sàng khi chồng mới chết ít ngày) là đẹp. Điều này hoàn toàn trái với phong tục Việt Nam, không những thời xưa mà cả với ngày nay.

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Trò, người viết nhiều ở Ninh Bình cũng phải công nhận là nay có nhiều quan niệm khác trước về cái nhân vật gọi là Dương Vân Nga và Lê Hoàn. Trong bài “Nhân xem một số tác phẩm sân khấu về nhân vật lịch sử Dương Vân Nga” ông Trò có nói tới vở chèo “Thái Hậu Dương Vân Nga” của Trúc Đường cho rằng tác giả đã đi quá xa lịch sử. Người xem thấy tác giả không công bằng khi xây dựng hai nhân vật Đinh Điền, Nguyễn Bặc. Để tạo nên đỉnh cao của mâu thuẫn trong vở chèo, tác giả đã hư cấu cảnh Đinh Điền, Nguyễn Bặc bắt Thái Hậu Dương Vân Nga nộp áo long bào cho nhà Tống để làm kế hoãn binh. Mà trong hoàn cảnh đó, trao áo long bào cho nhà Tống, là hàng giặc. Để bắt Thái Hậu Dương Vân Nga làm theo ý mình, Đinh Điền, Nguyễn Bặc đã bắt cóc ấu chúa đưa về Thanh Hóa. Đó là hành động của kẻ phản nghịch, cần phải tiêu diệt. Người xem có cảm tưởng hai nhân vật Đinh Điền, Nguyễn Bặc giống như Trần Ích Tắc thời Trần. Điều đó là trái với sự thật lịch sử và trái với tâm tư tình cảm của nhân dân vùng đất Ninh Bình từ xưa đến nay đối với Đinh Điền, Nguyễn Bặc. Ông Trò nói về vở “Tấm áo bào Hoàng đế” ra đời muộn hơn 20 năm, tác giả có lắng nghe dư luận hơn, nên tác giả đã ca ngợi Thái hậu Dương Vân Nga, Lê Hoàn mà không làm ảnh hưởng đến thanh danh của hai công thần nhà Đinh. Tác giả đã sáng tác nên nhân vật phản diện là Đinh – Nguyễn giữ quan điểm trung quân mù quáng, cố tình giữ ngôi báu của nhà Đinh, mà không nhìn thấy hiểm họa của đất nước lúc đó là quân xâm lược Tống. “Đinh – Nguyễn đã bị trừng phạt”. Theo chúng tôi việc làm đó của vở “Tấm áo bào” cũng chỉ là sự gán ghép một cách bị động để cứu vãn những sai lầm quá rõ từ trước, làm việc gượng ép như thế nên tác phẩm kém đi sức sống.

Vở cải lương độc diễn “hoàng hậu của hai vua” của tác giả Lê Duy Hạnh, do nghệ sĩ Bạch Tuyết thủ vai và Đài truyền hình Việt Nam truyền trong dịp xuân Đinh Sửu đã bị bài viết “Thư ngỏ gửi ông Lê Duy Hạnh”, tác giả vở “Hoàng hậu hai vua” của hai ông Đỗ Ngọc Ngạn – Thế Nguyện phê phán sâu sắc trên Tuần báo Văn nghệ số 22 ngày 31 tháng 3 năm 1997. Hai ông Ngọc Ngạn – Thế Nguyện vạch cho Lê Duy Hạnh thấy “Trong vở cải lương Hoàng hậu của hai vua ông đã dàn dựng và hư cấu những điều không đúng về các danh thần trụ cột triều Đinh như Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp”… “Nguyễn Bặc rõ ràng không phải là người luôn nghĩ mình là đại công thần bậc nhất, ít chú tâm vào việc lo cho dân cai trị nước… Thích dùng hình luật trừng phạt hơn là cách thuyết phục chúng dân, có đủ chữ tài, không đủ chữ tâm…” như ông đã viết trong vở kịch. Thực ra chúng tôi chưa muốn so sánh để chứng minh sự cai trị của hai triều Đinh – Lê (Tiền Lê) nhưng với thiện ý muốn rút ngắn khoảng cách ngộ nhận dị biệt tưởng cũng nên mượn lời cuốn lịch sử Việt Nam, do nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1980, quyển 1, trang 216:

… “Lê Hoàn xử tội rất tùy tiện, tả hữu có lỗi nhỏ cũng giết đi hoặc đánh từ 100-200 roi. Bọn giúp việc ai hơi có điều gì phật ý cũng bị đánh từ 30 đến 50 roi, truất làm tên gác cổng, khi hết giận mới gọi về cho làm chức cũ…”

Phải chăng sau này con là Ngọa Triều mới róc mía trên đầu sư, thấy máu chảy thì tỏ ra thích thú.

Về sự kiện khởi binh của các đại thần Nguyễn Bặc – Đinh Điền – Phạm Hạp để chống lại quyền thần Lê Hoàn lúc đó, lần theo sử sách, thần phả và gia phả còn lưu: chúng ta đều biết sau cái chết còn đầy nghi vấn suốt chiều dài lịch sử của vua Đinh và con là Đinh Liễn trong đêm rằm tháng 8 năm Kỷ Mão (979) sau một bữa tiệc lòng lợn rồi bị đánh thuốc độc… (không phải bị đổ thuốc độc vào tai như ông hư cấu) Lê Hoàn được cải làm nhiếp chính nhưng sau đó tự phong là Phó vương. Với hành vi mang mầm di họa cho vương triều chính thống, các công thần Nguyễn Bặc – Đinh Điền – Phạm Hạp mới khởi quân về triều đàn hặc Lê Hoàn. Đáng tiếc sự việc là như vậy nhưng ông Duy Hạnh đã hư cấu:

–  Lời Thái hậu họ Dương… “Này quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền, tại sao phải di giá vào Châu Ái, Châu Hoan. Tại sao phải đi khẩn cấp lúc trời còn tối mịt? Giặc nào đã động binh…

Và bà Thái hậu được tâu:

Giặc Tống động binh từ phía Bắc

Giặc Chiêm xâm lấn ở trời Nam

Còn giặc đang định chiếm lại ngai vàng tại chính là… Ông Hạnh dùng chấm lửng rồi viết tiếp: (vẫn lời bà Thái Hậu).

“… Không: Thập đạo tướng quân Lê Hoàn không bao giờ làm như vậy… Này Ngoại giáp Đinh Điền hãy để ấu quân lại đó, người định bắt ấu quân để buộc ta dời bước? Còn Nguyễn Bặc, người tuốt gươm để làm gì, ta không sợ chết. Vinh quang gì khi làm áp lực với mẹ góa con côi?

Tiếp theo ông dùng lời bà Thái Hậu phê phán Nguyễn Bặc – Đinh Điền khởi binh chống quyền thần Lê Hoàn:

“… Giặc sắp động binh, lành ít, dữ nhiều. Các ngươi đã từng trải chiến chinh cùng Tiên đế, chắc các ngươi thừa biết cái giá phải trả khi bước vào cuộc binh đao”.

Qua sự hư cấu của ông, điều nguy hại là làm cho người xem vở diễn hiểu sai lạc việc Nguyễn Bặc – Đinh Điền – Phạm Hạp khởi binh chống Lê Hoàn diễn ra đồng thời với việc quân Tống sắp động binh.

Sự thực lịch sử đâu phải như vậy. Thử đọc cuốn “Lịch sử Việt Nam” do nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1980 quyển 1 trang 218 nói gì?

“… Thời Đinh, mọi việc đi lại với Nhà Tống đều do Đinh Liễn phụ trách và nói chung khá êm thấm…”. Cũng sách trên dẫn tiếp: “… Thập đạo tướng quân Lê Hoàn được Thái hậu tôn làm Phó vương nắm cả quân quyền, tự do ra vào cung cấm. Thái Hậu Dương thị nhân đó giao cho Lê Hoàn quyền chấp chính thay vua… Các tướng cũ của Đinh Tiên Hoàng như Đinh Điền – Nguyễn Bặc – Phạm Hạp… sợ Lê Hoàn cướp ngôi nhà Đinh bèn họp nhau khởi binh đánh Lê Hoàn” (sách đã dẫn tr.212).

Nhưng đại sự không thành vì Lê Hoàn thống lĩnh quân đội, kiêm quyên chấp chính, quân quyền trong tay lại có sự phòng bị trước. Kết cuộc Đinh Điền tử trận, Nguyễn Bặc bị bắt và bị Lê Hoàn sát hại vào ngày 15 tháng 10 năm Kỷ Mão (979). Như vậy, ngày 15-8 hai cha con vua Đinh bị đầu độc, ngày 15-10 cùng năm đó các ông Đinh Điền – Nguyễn Bặc bị giết. Hai sự kiện xẩy ra cách nhau mới hơn một tháng, thử hỏi làm gì đã có chuyện quân Tống động binh:

Sự kiện động binh của quân Tống phải lần theo “Tống Sử” sẽ rõ:

‘Năm Canh Thìn (980) Sứ Tống là Lư Tập sang nước Nam thì được biết hai cha con vua Đinh đã chết do bị đầu độc. Các bậc công thần danh tướng Nguyễn Bặc – Đinh Điền – Phạm Hạp đã bị Lê Hoàn sát hại… và bức Đinh Toàn ra ở nhà khác, cấm cố cả họ Đinh để lên làm thống lĩnh”.

(Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam tập 1 in lần thứ nhất năm 1973 tr.181).

… “Lư Tập vội viết tấu biểu về kinh: Nước đã gần mất có thể nhân lúc này đem quân địa phương đánh lấy được, nếu bỏ lúc này sẽ mất cơ hội…”.

Và mùa thu tháng 7 ngày Đinh Mùi nhà Tống sai Hầu Nhân Bảo làm Giao Châu Lục lộ, thủy lộ chuyển vận sứ (tức là Tống binh) họp quân bốn mặt hẹn ngày cùng xâm lược” (Đại Việt sử ký bản ký toàn thư Q1 kỷ nhà Đinh tr. 160 – 161).

Như vậy, rõ ràng nguyên nhân quân Tống xâm lược là do chúng nắm được thời cơ Lê Hoàn rắp mưu cướp ngôi nhà Đinh và các đại thần trụ cột Nguyễn Bặc – Đinh Điền… đã bị Lê Hoàn sát hại từ tám, chín tháng trước đó rồi. Làm gì có chuyện Nguyễn Bặc – Đinh Điền khởi quân chống Lê Hoàn diễn ra đồng thời với việc quân Tống động binh nơi biên ải như ông Hạnh đã ngộ nhận.

Còn việc Lê Hoàn cướp ngôi là chuyện có thật đã được ghi trong “Đại Việt sử ký toàn thư Q1 tr.159 kỷ nhà Đinh”… “Phế đế húy là Toàn, con thứ của Tiên Hoàng ở ngôi được 8 tháng, Lê Hoàn cướp ngôi, giáng Toàn làm Vệ vương…”

Lấy lý do Vua còn nhỏ mà phải đương đầu với sự xâm lược của nhà Tống, trong khi Lê Hoàn đang thủ vai Phó vương kiêm quyền chấp chính để đi đến xóa bỏ một vương triều đầy hiển hách vừa được tạo dựng và đang trên đà hoàn thiện phát triển lại còn gắn với hành động sát hại các khai quốc công thần xem ra khập khễnh và thiếu lôgíc. Xin thử đọc lại lời bàn của sử thần Ngô Sĩ Liên:

“… Ngày xưa, Chu Công là tôn thất rất thân, giúp nhà vua còn nhỏ tuổi, còn không khỏi có lời dèm pha. Lê Hoàn là đại thần họ khác tay nắm binh quyền lại làm việc như Chu Công. Thường tình còn ngờ huống cho là Nguyễn Bặc ở chức thủ tướng, Đinh Điền là bậc đại thần cùng họ. Việc khởi binh đó không phải là làm loạn là một lòng phò tá vua Đinh. Đánh Hoàn không được mà chết, cái chết ấy là đúng chỗ. Nay xem lời Đại Hành kể tội Nguyễn Bặc hình như kể tội trạng của mình. Khi Bặc chết tất phải có nói một lời để tỏ chính nghĩa, sử không thấy chép thế là bỏ sót” (sách đã dẫn tr.160). Các ông Ngọc Ngạn và Thế Nguyên còn cho rằng:

Công tích của các bậc danh thần Triều Đinh như Nguyễn Bặc – Đinh Điền – Phạm Hạp… từ xa xưa đã được dân tộc tôn vinh, thờ phụng – Trải các triều Lý – Trần – Lê – Nguyễn đều có sắc phong các ông làm Thành hoàng ở nhiều thôn xã. Nguyễn Bặc có tới 35 địa phương lập đền thờ. Đinh Điền còn nhiều hơn, cụm đình thờ vua Đinh, thờ Nguyễn Bặc cũng lăng mộ hai vị ở quế hương xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, Ninh Bình đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa. Đền Ba Dân ở xã Tứ Hiệp – huyện Thanh Trì Hà Nội cũng có vinh dự như trên. Tại thôn Thanh Khê xã Ninh Hòa, huyện Hoa Lư, Ninh Bình nơi ông bị Lê Hoàn sát hại cũng lập đền thờ ông. Tại đền có đôi câu đối:

Đức mãn càn khôn, Lư động vân khai truyền hiến tích

Trung quán nhật nguyệt, nam thiên nghĩa tụ thụ tiên trinh.

Tạm dịch:

Đức tràn đầy trời đất, mây toả rộng trên động Hoa Lư truyền lại sự tích hiển hách của ông.

Lòng trung thấu đến nhật nguyệt, tụ nghĩa ở trời Nam ông cầm lá cờ đầu.

Phải là một bậc khai quốc công thần tài cao đức trọng như Nguyễn Bặc mới được nhân dân và các sử gia ghi nhận tôn vinh như thế. Ông là thần tượng cao đẹp của hàng triệu người trên khắp đất nước. Là vị tổ thiêng liêng, tôn kính của bao triệu con cháu hậu duệ của Người. Hư cấu những điều không đúng các bậc danh nhân tiền bối là xúc phạm tới lịch sử dân tộc và nhân dân.

Làm văn nghệ khi xây dựng nhân vật có quyền hư cấu. Nhưng hư cấu sai lạc nhân cách của những danh nhân lịch sử biến người tốt thành người xấu, kẻ xấu thành tốt thì tác hại vô cùng, càng có hại cho sự nghiệp đoàn kết toàn dân.

Với nhân vật bà Thái Hậu họ Dương tưởng cũng nên góp với ông Duy Hạnh đôi điều: Việc yêu thầm nhớ trộm của bà với ông Thập đạo Lê Hoàn chỉ xảy ra khi bà đang mang vành khăn tang còn thơm mùi vải, đang buông rèm nhiếp chính cho con. Tâm trạng bà đang chới với hoang mang, bà đã thành thực bộc trực nỗi lòng:

“… Dương Vân Nga này đang kiệt sức, ai là người tiếp lực, một lần thôi, chỉ một lần thôi…” và may mắn do ngẫu nhiên hay tình cờ, lập tức một bó hoa được buông xuống từ từ ngay trước mặt bà Thái Hậu, trước cỗ Ngai Vàng! Và linh tính cộng với sự nhạy cảm của người đàn bà đã qua từng trải, bà nhanh chóng “ôm hoa trìu mến” và phát hiện bó hoa có 10 cánh màu khác nhau nhưng cùng chung một loại. Bà khẳng định… “Có phải là Thập đạo tướng quân? Mà không, không có lẽ. Đó là trang dũng tướng đứng đầu ngàn binh sĩ, uy đức nghiêm minh, luôn giữ tôn ti trật tự, bao giờ cũng thể hiện mình là bề tôi trung tín…” Rồi bà tự hoài nghi: “Vậy thì tướng quân Lê Hoàn lẽ nào lại dâng hoa cho ta… Mười cánh hoa gợi mười đạo quân, chắc chắn là thập đạo tướng quân rồi”:

Đọc đoạn này làm tôi chợt nhớ câu Kiều của Nguyễn Du:

“… Thương nhau chẳng lọ bằng mười phụ nhau”.

Tiến trình tặng hoa và nhận hoa cứ vậy tiếp diễn đều đều mỗi sáng và khi bó hoa xuất hiện, bà Thái Hậu “…vội chạy đến ôm hoa vào lòng… và… Hoàng Hậu có lần chợt giật mình, buông hoa, chấp tay khấn vua Đinh”. Nhưng… “Ngày đêm trôi qua được lặp đi lặp lại khi có tiếng gà gáy, tiếng trống mõ điểm canh năm. Mười cánh hoa lại được buông xuống và mỗi lần như vậy Hoàng Hậu Dương Vân Nga mang tâm trạng đấu tranh giằng xé giữa một bên là hoa của sự sống của tình yêu con người và một bên là bài vị vua Đinh biểu tượng của lễ nghi đạo lý…

Và cái gì đến ắt phải đến; đó là cái lần:

“… Lần cuối cùng ta thấy Hoàng hậu như đã quỳ trước bài vị vua Đinh suốt đêm để chiêm nghiệm, cầu xin, khấn vái. Hoàng hậu như không còn biết có hoa lặng lẽ được buông xuống. Tất cả sự im lặng đó kéo dài. Cái im lặng như không có gì chất chứa sự đè nén tột cùng. Rồi đột nhiên Hoàng hậu bật thẳng dậy lao tới hoa như mũi tên” (trích lời trong kịch bản).

Để góp phần minh định cho mối tình của bà Thái Hậu họ Dương và quan Thập đạo Lê Hoàn đã qua bao nhiêu tháng năm ấp ủ, ông Hạnh viết: “Lời thị phi ác độc lan truyền như bệnh dịch, kèm theo bao lời dị nghị về chuyện ta yêu người – Thập đạo tướng quân. Ta đã yêu người nhưng không phải từ đó ta trao cho người quyền nhiếp chính. Lời thị phi kinh tởm, đáng nguyền rủa là ở chỗ này đây. Người ta đã đem 2 việc có thật không liên quan mật thiết để xuyên tạc, để vu khống. Như vậy những điều chân chính người ta cũng làm như ẩn chứa tà dâm. Sao lại có người gian ngoa lưỡi mối, miệng lằn. Sao có loại người…

… Hỡi những người ưa thích chuyện thị phi, hay thêu dệt những chuyện ly kỳ tưởng tượng. Ta yêu chàng, đó là mối tình cao thượng và ta vượt lên tất cả những ràng buộc của đạo lý ngàn đời…”

Kể ra chúng tôi cũng trích lục hơi dài dòng, nhưng xét cho cùng thiện ý chúng tôi là muốn góp phần khắc họa thêm nhân cách của một vị “Mẫu nghi thiên hạ” và thực ra sử sách xưa nay cũng đã ghi nhận sự gian dâm của bà với quan Thập đạo. Trong dân gian từ xa xưa đã chẳng lưu truyền bài “Hoa lư ký sự” đó sao.

Vấn đề đáng để chúng ta quan tâm nhức nhối là ở chỗ: ca ngợi việc tiếm ngôi của một quyền thần để xóa bỏ một vương triều có nhiều công lao to lớn, một triều đại mở đầu cho sự nghiệp tập trung thống nhất đất nước, tiến tới kỷ cương, đường mối, an lạc, thái hòa.

Từ hư cấu đi đến bôi nhọ, thóa mạ các bậc danh nhân trung quân ái quốc, tán dương người đàn bà gian dâm phụ bạc xúc phạm tới truyền thống và đạo lý tốt đẹp của một dân tộc đã tự hào có ngàn năm văn hiến. Đảng và Nhà nước ta luôn luôn chủ trương giữ gìn phát huy truyền thống tốt đẹp nền văn hóa dân tộc, giữ gìn thuần phong mỹ tục, chăm lo giáo dục đạo lý làm người.

Thử hỏi vở cải lương “Hoàng hậu của hai vua” đã đáp ứng được sự mong mỏi trong sáng hay ngược lại. Làm văn học hay nghệ thuật ở bất cứ thời nào cũng phải mang chức năng giáo dục. Đó là tiêu chí hàng đầu.

Chúng tôi cũng có đôi điều muốn nói thêm về quan thập đạo Lê Hoàn cũng tức là vua Lê Đại Hành sau này: Ông thực sự là tướng có tài, ông đã có công góp phần xây dựng một vương triều đầy chiến tích. Chiến tích ông càng vang dội hơn khi ông lãnh đạo toàn dân đập tan đội quân xâm lược của nhà Tống. Nhưng cũng triều đại ông những cuộc nổi dậy của chúng dân không phải là ít và vì vậy sự tồn tại của vương triều ông cũng chỉ vẻn vẹn có 28 năm.

Trước khi kết thúc bức thư ngỏ này xin trích một đoạn trang Đại Việt sử ký bản ký đời nhà Lê (Hậu Lê) tr.166 có lời phán định như sau: “Vua nhân gian dâm trong cung mà lấy được nước. Đại hành thông dâm với vợ vua rồi nghiễm nhiên lập làm Hoàng hậu là không có lòng hổ thẹn nào nữa. Lấy lối ấy truyền lại cho đời sau, chính con mình bắt chước há chẳng phải do Đại Hành gây mối hậu họa ư”.

Tới đây tôi nhớ câu nói nổi tiếng của một sử gia người Pháp:

“…Một nửa cái bánh mì vẫn gọi là bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì không còn là sự thật nữa”.

Nói về các nhân vật liên quan đến Nguyễn Bặc như Lê Hoàn – Dương Thái hậu, ngoài tuồng chèo phim ra còn có các bài nghiên cứu. Các bài này cũng phê phán các tác phẩm nghệ thuật ấy. Đáng chú ý là mục “Nhìn lại lịch sử” trên “Thế giới mới” có bài: “Hoàng hậu Dương Vân Nga dưới mắt nhà nho Hoàng Đạo Thúy” của Nguyễn Ngọc Quế ra ngày 16/6/1997. Ông Ngọc Quế cho biết: “Năm cụ Thúy 93 tuổi, có người hỏi cụ: về Hoàng hậu Dương Vân Nga, trong sử sách không thấy ca ngợi mà còn chê trách nữa là khác. Nhưng vừa qua, có nhà viết kịch đã hư cấu, ca ngợi Dương Vân Nga như một người hùng và lại bôi nhọ các danh nhân lịch sử khác, ý kiến của cụ thế nào?”

Cụ Hoàng Đạo Thúy nói: rồi đây, chắc không lâu nữa, người ta phải viết lại sử cho chuẩn xác hơn. Trước kia, tôi dạy học nhiều năm ở Ninh Bình nên có góp nhặt ở trong dân gian, nhất là từ các cụ nho học khoa bảng ngày xưa nhiều chuyện nói về Dương Vân Nga và Lê Hoàn.

Chuyện cả ngàn năm nay, chẳng ai dám biết chắc, nhưng có lẽ Dương Vân Nga rất đẹp. Hẳn đã có bao thanh niên tuấn tú, anh tài vây quanh, trong đó có Lê Hoàn. Nhưng rồi cô lấy Đinh Tiên Hoàng, làm vợ thứ năm. Vì có nhan sắc tuyệt vời nên cô được phong làm hoàng hậu ngay. Lê Hoàn có tài võ nghệ, được tin yêu giao cho chức bộ tướng đánh dẹp các sứ quân lập nhiều công trạng – Dẹp xong 12 sứ quân, Nguyễn Bặc được lên ngôi Thái Tể và Lê Hoàn lên thay chức thập đạo tướng quân vào năm 971. Từ đó, Lê Hoàn được gần gũi vào ra triều trung, được nhà vua hết sức tin cậy. Tuổi đời giữa vua và hoàng hậu khá chênh lệch nhau, còn Lê Hoàn là người tình cũ xứng đôi vừa lứa được gần gũi, ở bên cạnh. Sự tin yêu này làm cho quan Thập đạo tái tạo mối tình xưa rất dễ dàng mà không ai có thể biết được. Đến năm 974 thì Hoàng hậu Dương Vân Nga mang thai.

Các cụ xưa còn thuộc câu ca dao này:

Người tình ẩn bóng, kè kè

Chính chuyên đâu dễ thuộc về quân vương.

Nhân đây cũng cần nhắc tới sự tích con sông Vân Sàng. Vân là mây, Sàng là giường. Tương truyền, có lần Dương Vân Nga kê giường bên bến sông để chờ đón Lê Hoàn. Lê Hoàn thắng trận về, hai người gặp nhau trên cái giường này thì có mây đen bao phủ kín mít quanh giường. Dân gian lại kể: hai người ái ân hoan lạc trên thuyền ở khúc sông này, sóng nhấp nhô bồng bềnh như trên cái giường mây lững lờ trôi trong trầm mặc.

Nói đến chuyện này, biết bao người còn phân vân về vụ án Đỗ Thích hành thích hai cha con Đinh Tiên Hoàng, đã ngàn năm nay chưa rõ kẻ thủ mưu. Trong triều lúc ấy có bốn ông tứ trụ ngồi lù lù. Đỗ Thích làm sao mà cướp được ngôi vua? Ai có âm mưu thoán vị thì đã rõ rành rành! Tại sao chỉ Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn là con cả bị giết mà Dương Vân Nga và Đinh Toàn (6 tuổi) vẫn bình yên? Lại còn có giả thuyết cho rằng Toàn không phải họ Đinh mà là họ Lê (!)

Sau này khi Đinh Toàn chết trận, Lê Hoàn ôm xác Toàn khóc nức, gào thét thảm thiết như thắm tình thiết cốt cha con. Chuyện này sử có chép và dân gian luận theo cách hiểu của mình.

Sau khi cha con vua Đinh bị hại, ý đồ thoán vị đã rõ, triều đình lộn xộn xôn xao, thân tộc họ Đinh bị cấm cố. Các trung thần phải lánh triều để khỏi bị sát hại. Đinh Điền, Nguyễn Bặc đi vào Thanh chiêu mộ lực lượng rồi kéo quân ra hỏi tội Lê Hoàn, bị Lê Hoàn đánh bại, Đinh Điền chết tại trận, Nguyễn Bặc bị bắt rồi bị Lê Hoàn giết. Việc này sử có ghi: “Cái chết của hai ông là đúng chỗ”. Vậy thì hành động của Lê Hoàn là không đúng chỗ rồi?

Sau cái chết của Đinh Điền, Nguyễn Bặc, đất nước Đại Cồ Việt bị suy yếu. Nhà Tống biết được tin này mới dám kéo quân sang xâm lược nước ta. Rõ ràng thủ phạm giết vua để thoán ngôi, sinh ra nội bộ bất hòa, dẫn đến họa xâm lăng, đất nước phải binh đao. Dù Lê Hoàn có công đánh Tống nhưng đồng thời cũng là kẻ có tội đối với lịch sử mà phần tội thì chưa được phán xét. Chiến công thắng Tống cũng không phải hoàn toàn của riêng Lê Hoàn. Trước sự tồn vong của đất nước, chính nhân dân ta đã gạt bỏ mọi sự bất đồng, đoàn kết chiến đấu và đã chiến thắng giặc Tống xâm lược.

Dân ta vô cùng sáng suốt. Còn việc bôi nhọ danh nhân (như trường hợp Nguyễn Bặc) thì rõ ràng là do chẳng hiểu gì về sử cả. Xúc phạm đến danh nhân là có tội với dân tộc. Ở Ninh Bình, nhiều nơi tẩy chay cái vở diễn ấy. Những nơi thờ Ngài (Nguyễn Bặc – NV) làm Thành Hoàng thì chẳng ai tin những lời nói sai lạc lịch sử trong vở kịch mà còn bất bình nữa là khác.

Cũng trong mục “Nhìn lại lịch sử” ở “Thế giới mới” còn có bài: “Thái hậu Dương Vân Nga có phải là nữ anh hùng dân tộc?” của Phan Trọng Hiền. Ông Hiền có kể lại câu chuyện: “Trong phần thi ứng xử của một cuộc thi tuyển chọn người đẹp cách đây chưa lâu, giám khảo đặt câu hỏi: “Hãy kể tên nữ anh hùng dân tộc Việt Nam” có thí sinh đã trả lời không chút ngần ngại: “Đó là Thái hậu Dương Vân Nga (!). Ông nói: “Có lẽ cô này là người mê cải lương, rằng sự tích Dương Vân Nga được “tô hồng” qua vở cải lương cùng tên nên mới trả lời một cách tự tin như thế” và khẳng định: “Thật ra Thái hậu Dương Vân Nga chưa bao giờ được tôn xưng là “nữ anh hùng dân tộc” như Hai Bà Trưng, Bà Triệu…” Ông Hiền phân tích: “Ngược dòng lịch sử” năm 968, sau khi dẹp xong loạn 12 sứ quân, Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế (tức Đinh Tiên Hoàng) đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình) Đinh Tiên Hoàng lập một lúc 5 ngôi hoàng hậu mà một trong năm bà là Dương Vân Nga, phong Nguyễn Bặc làm Định Quốc công (coi việc tể tướng), Lưu Cơ làm Độ hộ phủ sĩ sư (coi việc hình án), Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân… Lợi dụng chức vụ Lê Hoàn thường xuyên ra vào cung cấm tư thông với Dương Vân Nga, có ý lộng quyền… tự xưng là Phó vương. Các đại thần Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp sợ Hoàn sẽ cướp ngôi của ấu chúa nên khởi binh chống lại. Việc không thành, Đinh Điền tử trận, còn Nguyễn Bặc, Phạm Hạp lần lượt bị bắt đem về triều. Nguyễn Bặc bị xử tử, riêng Phạm Hạp (anh của Phạm Cự Lượng, một viên tướng tâm phúc của Lê Hoàn) lại không thấy nói đến.

Lợi dụng tình hình nội bộ nước ta đang rối ren, cuối năm 980 nhà Tống sai bọn Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng, Lưu Trừng… chia binh làm hai đường thủy, bộ, kéo sang định cướp nước ta. Lê Hoàn bèn cử Phạm Cự Lượng làm đại tướng quân, đốc xuất binh lính, chuẩn bị chống giặc. Ngày xuất quân, Phạm Cự Lượng cùng các tướng mặc áo giáp đi thẳng vào điện nói với mọi người: “Nay chúa thượng còn thơ ấu, chúng ta đều hết sức liều chết để chặn giặc ngoài, may có chút công lao thì ai biết cho? Chi bằng trước hãy tôn ông Thập đạo làm Thiên tử, sau đó sẽ xuất quân thì hơn”. Quân sĩ nghe nói vậy, rập nhau hô vạn tuế”. Thái hậu Dương Vân Nga thấy mọi người vui lòng quy phục, bèn sai lấy long cổn (áo có thêu hình rồng cuộn) khoác lên người Lê Hoàn, Hoàn mới lên ngôi hoàng đế (tức vua Lê Đại Hành). Năm ấy Lê Hoàn 39 tuổi. Đinh Toàn làm vua chưa được một năm, bị giáng làm Vệ vương như cũ (sử gọi là Phế Đế).

Nạn ngoại xâm đã yên, năm sau (982) Lê Đại Hành cùng lập 5 ngôi hoàng hậu, đứng đầu là Dương Vân Nga (hiệu “Đại thắng minh hoàng hậu”).

Sự thật lịch sử là vậy, nhưng trong vở cải lương Thái hậu Dương Vân Nga, bà thái hậu họ Dương được tô vẽ như một bậc nữ lưu anh kiệt có tầm nhìn xa rộng, biết đặt lợi ích đất nước lên trên quyền lợi của dòng họ, đã đem long bào và gươm lệnh trao cho Lê Hoàn một cách “vô tư” “trong sáng”! Hình tượng Nguyễn Bặc, Đinh Điền cũng bị bóp méo, tác giả vở cải lương đã biến các ông thành những kẻ tiểu nhân ích kỷ, thậm chí là những người “nối giáo cho giặc” (!). Gần đây, trên tờ báo có đăng bài viết của L.G viết về Thái hậu Dương Vân Nga, đã mô tả Nguyễn Bặc “là người gian dảo, ngay từ khi Đinh Tiên Hoàng còn sống, đã đôi lần làm sai lệnh bị nhà vua khiển trách”, còn Đinh Điền là người có tính hay ghen tỵ, hám địa vị: “Đinh Điền tuy mang dòng máu họ Đinh song con người này không cam chịu làm chức quan nhỏ trong triều đình, nhưng tỏ ý ganh tỵ với nhiếp chính vương” (Lê Hoàn). Phạm Hạp càng tệ hơn, “chỉ là tên theo đóm ăn tàn, chẳng có tài cán gì…” (L.G còn viết nhầm tên Đỗ Thích thành Phạm Quý Thích!). Tác giả có lẽ không biết rằng Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp là ba trong “Giao Châu thất hùng” thời ấy (bốn người hùng còn lại là Đinh Tiên Hoàng, Đinh Liễn, Lê Hoàn và Phạm Cự Lượng). Cả ba vị đều là những “khai quốc công thần” của nhà Đinh, đã bao phen “xông tên đụt pháo”, “vào sinh ra tử”, giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp tan loạn sứ quân, thu giang sơn về một mối (Nguyễn Bặc, Đinh Điền còn là bạn thuở chăn trâu của Tiên Hoàng). Bặc, Điền, Hạp vì vậy đáng được kính trọng hơn là bị lên án, chẳng qua họ chỉ muốn bảo vệ ngai vàng cho nhà Đinh nên mới dám đứng lên chống lại kẻ mạnh, có thế lực bao trùm lúc bấy giờ là quan Thập đạo tướng quân – Tổng chỉ huy quân đội – kiêm “Phó vương” Lê Hoàn. Họ chưa vượt thoát được quan niệm “trung quân ái quốc” đương thời, không nỡ im lặng nhìn một kẻ bề tôi là Lê Hoàn tư thông với vợ của tiên đế đồng thời cũng là bạn chiến đấu cũ của mình; không cam tâm ngồi nhìn uy quyền của họ Lê lấn át cả ấu chúa. Họ sợ Lê Hoàn trước sau gì cũng cướp ngôi nhà Đinh nên mới liều làm thế. Không tiếc mạng sống của bản thân và gia đình. Đại Nam quốc sử diễn ra rất đề cao Nguyễn Bặc, Đinh Điền, chê trách việc tiếm ngôi của Lê Hoàn như sau: “Bặc, Điền vì nước liều mình – Trách sao Cự Lượng tán thành mưu gian…” Trong khi đó, Thiên Nam ngữ lục cũng lên án Dương Thái Hậu gay gắt: Thương thay tang tóc hãy còn – Nghĩa chồng, đạo chúa bỏ đôn đường nào – Bèn cùng Lê tướng thông giao…”

Ngày nay, đánh giá thái hậu Dương Vân Nga, có lẽ không ai còn khe khắt như người xưa, lên án thậm tệ những việc bà đã làm. Nhưng không nên vì vậy mà lại đề cao quá đáng, coi Dương Vân Nga gần như vị cứu tinh của dân tộc trong thời điểm đó. Theo tôi, bà chẳng qua cũng chỉ là một “nhi nữ thường tình”, giàu tình cảm, vì yêu quan Thập đạo trẻ trung, tài ba nên không tiếc khi đem cơ nghiệp của nhà chồng trao cho họ Lê. Nhưng với tình thế lúc bấy giờ, giả sử Dương Vân Nga không muốn đem long bào khoác cho Lê Hoàn, liệu có được chăng? Khi giặc ngoại xâm đã lăm le ngoài bờ cõi, vua còn nhỏ dại, quyền hành của Lê Hoàn lại bao trùm, nếu không được chính thức nhường ngôi, chắc chắn họ Lê cũng sẽ làm một cuộc binh biến giống như “Trần Kiều binh biến” mà Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn đã làm khi tước đoạt ngai vàng từ tay ấu chúa Cung Đế Sài Tôn Huấn nhà Hậu Chu. Việc bà Thái hậu họ Dương đã làm chẳng qua chỉ là hành động “hợp thức hóa”, là ván bài cuối cùng để trao ngôi vua cho Lê Hoàn một cách hòa bình, hầu được “danh chính ngôn thuận” mà thôi! Lê Hoàn không quên “ơn” này, nên sau đó trả công, đã phong Dương Vân Nga làm “Hoàng hậu thứ nhất” trong số 5 bà hoàng hậu của ông, còn ấu chúa Đinh Toàn thì tính mạng cũng như tước vị (tước vương) được bảo đảm an toàn cho đến khi khôn lớn”.

V các sách Hán Nôm:

Có một số ngọc phả, gia phả chữ Hán quan hệ đến Nguyễn Bặc chúng tôi đã sưu tầm được hoặc ghi lại được như: Cuốn Ngọc Phả “Đinh Quốc công Nguyễn Bặc” tại đền thờ ông ở thôn Phú Cốc, xã Thành Lợi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định cho biết: ở trang Gia Miêu, động Lam Sơn, Phủ Thiệu Thiên (nhầm tên phủ), Châu Ái (nay thuộc Thanh Hóa) có ông Nguyễn Huy cùng vợ là Lê Thị Lược tu nhân tích đức, cầu tự sinh được con quý tử là Nguyễn Bặc, cha mẹ qua đời, ông theo Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn được cử về vùng Nghĩa Hưng Sơn Nam để chiêu mộ nghĩa sỹ, đến đầu huyện Thiên Bản phủ Nghĩa Hưng nghỉ trọ, ông mơ thấy thần cho bài thơ, dịch nghĩa là:

“Đất Thiên Bản có làng Phú Cốc,

n hiền hòa mỹ tục thuần phong.

Nay cần ông là người có chí ra giúp nước.

Khi công thành danh toại ắt sẽ hiến thần”.

Tỉnh mộng, ông tìm đến làng Phú Cốc, ở lại vài chục ngày, mộ được hơn 3000 quân kéo về Hoa Lư giúp vua dẹp 12 sứ quân. Hòa bình, ông về Phú Cốc lập cung doanh nghỉ ngơi, dâng biểu xin cho dân làng Phú Cốc miễn binh phu, tô thuế, xin trăm tuổi mình được làm thần tại đó. Dân ở đây vui mừng xin lập sinh từ cho ông. Đinh Tiên Hoàng bị ám sát. Lê Hoàn cùng Dương hậu tư thông, thoán vị nên Nguyễn Bặc cùng Đinh Điền khởi binh chống lại, bị Hoàn bắt đem về kinh xử chém, ông luôn mồm chửi mắng Lê Hoàn không dứt rồi bị Lê Hoàn giết chết vào ngày 14 tháng 7. Từ đó ông hiển linh, dân Phú Cốc thờ rất linh ứng.

Cuốn “Ngọc phả” do ông Đinh Khắc Hữu (Lý Hữu) thôn Khê Đầu thuộc địa bàn cố đô Hoa Lư tỉnh Ninh Bình giữ, các nhà nghiên cứu Hồ Thị, Văn Vượng sử dụng để biết bài “Nhìn về mấy di tích – từ đường Nguyễn Bặc trên đất Hà Nam – Nam Định – Ninh Bình”. Kết hợp ngọc phả với truyền thuyết địa phương, các ông cho biết: “Nguyễn Bặc là bạn thân từ buổi niên thiếu với Đinh Bộ Lĩnh. Ông đã đồng cam cộng khổ với Bộ Lĩnh, nhiều năm tập luyện võ nghệ cũng như chinh chiến dẹp loạn 12 sứ quân, đưa giang sơn về một mối. Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế xây dựng quốc gia độc lập, tự chủ dân tộc, đã định công trạng tướng sĩ, phong Nguyễn Bặc là công thần bậc nhất với tước Định Quốc Công (tương đương Thủ tướng), Đinh Điền, Lưu Cơ, Trịnh Tú đều được phong tước cao sang và được người đời liệt trong hàng tứ trụ triều đình.

Đinh Tiên Hoàng Đế cùng Nam Việt Vương Liễn bị hại là tổn thất lớn lao cho vương triều, dân tộc. Đối với Nguyễn Bặc, Đinh Điền thì đây là thảm họa chua xót, một sự mất mát không lường. Hơn nữa Vệ Vương Đinh Toàn nối ngôi trong lúc nhỏ tuổi, Lê Hoàn vừa là Phó Vương, Nhiếp chính và là tình nhân của Thái hậu Dương Vân Nga nên hai ông lo cho vận mệnh triều đình, nhìn thấy nguy cơ tiếm vị.

Nôn nóng giải quyết tình hình, nhất là quan điểm trung quân ái quốc, tình cảm đồng quê, đồng chí hướng nên Nguyễn Bặc, Đinh Điền chia quân đóng giữ các thành trì, dự định kéo quân về kinh trừ khử Lê Hoàn. Đinh Điền giữ thành Ái Châu, Phạm Hạp đóng quân ở phía đông thành. Nguyễn Bặc phòng thủ Tứ Sơn động (tức vùng Khê Đầu Thượng Hạ). Nguyễn Bặc phân công cho Nguyễn Bồ (em Nguyễn Bặc), Đinh Lâm trấn giữ trong động, còn ông và Nguyễn Hiên đóng quân phía ngoài núi, chờ thời đột nhập bắt Lê Hoàn.

Đoán được tình hình các đại thần nhà Đinh bất đồng không phục, Lê Hoàn được Phạm Cự Lượng giúp sức, kéo đại quân bất ngờ tiến đánh đối phương. Hoàn chặn phía Tây, Lượng dùng thuyền nhỏ tiến trong đêm tối vào hang, lại cho quân trèo núi dùng nỏ bắn xuống hang. Bị tấn công bất ngờ nên Nguyễn Bồ, Đinh Lâm và quân sĩ đại bại, tử trận gần hết.

Nguyễn Bặc và tướng Nguyễn Hiên bị đánh tập hậu, đang khi lúng túng thì Phạm Hạp đem quân đến giải vây, rồi cùng lui quân sĩ về Ái Châu.

Về Ái Châu, Nguyễn Bặc, Đinh Điền tập hợp lực lượng còn chừng vài vạn quân, liền chia quân cho các tướng Phạm Hạp trấn giữ ở Lư Giang, Nguyễn Hiên giữ thành Giá Châu, còn lương thảo thì nhân dân địa phương gom góp chu cấp.

Lê Hoàn cho quân vào đánh thành Ái Châu mãi không được, ngầm cho quân tháo nước vào thành làm chết nhiều người và khi Đinh Điền, Nguyễn Bặc dùng thuyền lui quân, Hoàn dùng kế hoả công khiến quân đối phương hoảng loạn bị chém chết, chết cháy, chết đuối khá nhiều. Đinh Điền bị chết tại trận, Định Quốc Công Nguyễn Bặc thế cô, quyết không để sa vào tay kẻ thù nên đã nhảy xuống sông trầm mình tử tiết. Tình tiết này liệu có giống các Ngọc Phả khác muốn tô điểm trong sự hy sinh, để hợp với lòng người ngưỡng mộ, hay sự thực đã diễn ra, nên cũng cần để tâm nghiên cứu.

Ngọc Phả chép tiếp sự kiện tướng quân Phạm Hạp đem quân bộ chạy về hướng Cát Lợi (Bắc Giang), nhưng cũng bị Phạm Cự Lượng đem quân vây bắt đem về kinh sư xử trảm. Cuộc dấy nghĩa chống Lê Hoàn bị dập tắt, các công thần nhà Đinh bị đàn áp, loại trừ, hoặc tìm đường ẩn tránh.

Cuốn “Đinh gia ngọc phả” của Hoa Châu Đinh Hữu Giang, ghi chuyện Đinh Bộ Lĩnh gắn bó với Đinh Điền, Nguyễn Bặc từ thuở cờ lau tập trận, dẹp 12 sứ quân thống nhất đất nước. Ngọc phả nói tới việc vua Đinh bị ám sát và phê phán: tên Đỗ Thích này không tự biết thân phận, chỉ là một tên nội thị, không có tài đức, danh vọng gì, không có công lao hãn mã gì lớn, không có lực lượng hậu thuẫn gì, thế mà dám cả gan làm sự đại nghịch bất đạo (có lời chú: Đỗ Thích cùng chỉ là tên quá ư khờ dại, bị Lê Hoàn là một tay đại gian ác lợi dụng, mua chuộc, hứa hẹn gì đó. Nhưng sau khi thành sự rồi thì Lê Hoàn hưởng mà y thì bị tru di. Rõ đáng kiếp cho kẻ bé như con ếch muốn to bằng con bò và đi làm cỗ sẵn cho người ta hưởng). Sau khi Đinh Tiên Hoàng mất, vẫn theo đúng lời Ngọc Phả: “Đáng lẽ nên chọn người con nào lớn tuổi của đức Tiên đế hay là cháu đích tôn của ngài (con của Nam Việt Vương Đinh Liễn) cũng đã lớn tuổi lên nối ngôi mới phải, nhưng Lê Hoàn định tâm thoán đoạt nên mới có mưu mô lập vua nhỏ để dễ bề hành động… Các vị đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc biết rõ dã tâm của Lê Hoàn muốn cướp ngôi của ấu chúa nên cùng nhau đem binh đến đánh. Nhưng Lê Hoàn có sẵn trong tay binh quyền lại được lũ gian thần Phạm Cự Lượng a tòng nên đánh giết được các vị trung thần kia”.

Ngọc Phả nói tới việc Lê Hoàn mớm lời cho bọn tướng sỹ tôn phù mình làm vua. Ngọc Phả còn nhắc tới đôi câu đối ở đền thờ Lê Đại Hành:

“Vận hội bản do thiên, Đế Tng Hoàng bào, đế Việt Long cổn

Linh thanh tràng thử địa, Hoàng Đinh thượng miếu, Hoàng Lê hạ trừ”.

Dịch nghĩa:

“Vận hội vốn do trời, vua nhà Tống khoác áo hoàng bào, vua nước Việt khoác áo long cổn.

Tiếng anh linh còn mãi ở đất này, vua Đinh thờ ở Miếu trên vua Lê thờ ở đền dưới”.

Câu này phải hiểu điển tích mới thấy rõ: vua nhà Tống và vua Tiền Lê đều là một phường cướp ngôi qua việc khoác áo bào với sự tôn phù của quân sỹ: Vua Hậu chủ nhà Hậu Chu đời Ngũ đại bên Trung Quốc băng hà, con là Cung đế mới 7 tuổi lên nối ngôi, giặc Khiết Đan vào xâm lấn, vua sai tướng Triệu Khuông Dẫn đem quân đi dẹp giặc, đến Trần Kiều, Khuông Dẫn bày mưu để tướng sỹ lấy áo hoàng bào ép mình lên làm vua, phế truất Cung đế lập ra nhà Tống, sự thật như vậy nhưng có người có ý phân tích khác để có lợi cho Lê Hoàn.

Ngọc phả chép 4 câu thơ vịnh sử:

“Lư trương tranh phong Vạn Thắng vương

Hoa Lư định đỉnh quýnh tầm thường

Đình trung dưỡng hổ tương thùy phạt

Đỗ thị Lê Gia nhật tại bằng”

Tạm dịch:

“Phát lau tranh sức Vạn Thắng vương

Hoa Lư định đính vượt tầm thường

Trong đình nuôi hổ phạt ai vậy

Lê Hoàn Đỗ Thích vẫn nghênh ngang”

Và nói tới việc tuyên truyền bịp bợm: muốn để trấn an nhân dân vua Lê sai người bịa ra câu sấm:

“Đ Thích thí Đinh Đinh

Lê Gia xuất thánh minh”

Nhân dân trong nước bấy giờ đa số tính tình chất phác tin là thực đều cho rằng nhà Lê làm vua thay nhà Đinh là do trời định.

Cuốn “Phụng sao về thủy tổ họ Đinh” cho rằng: Lã Thượng phù tá nhà Chu, con của họ Lã là Lã Cấp khoẻ mạnh như hổ cải hiệu là Đinh Công. Từ đó, chi trưởng họ Lã, con thứ phân họ Đinh. Đó là thủy tổ họ Đinh, thời Xuân Thu Chiến Quốc họ lánh nạn ở Giang Nam, qua Hán Đường về sau họ phiêu bạt nhiều nơi , có người phiêu bạt sang nước ta ở động Hoa Lư” dòng dõi sinh ra Đinh Tiên Hoàng. Tiên Hoàng lúc trẻ thả trâu dê khao quân, Đinh Điền, Nguyễn Bặc cũng đến yến hưởng theo như nghi lễ triều đình, rồi cùng nhau dẹp yên 12 sứ quân. Vua mất, sách ghi rõ “có kẻ nội loạn gian thần (họ Lê tên húy là Hoàn) nổi loạn chém giết” dòng họ mỗi người chạy một nơi. Phần sau của “Phụng sao” là “Tôn thần sự tích ký” nói về sự nghiệp Đinh Điền, từng làm Thập đạo tướng quân trước Lê Hoàn, có công cùng Nguyễn Bặc dẹp loạn 12 sứ quân và chống sự thoán đoạt của Lê Hoàn.

Cuốn thần phả các đền thờ Ngoại giáp Đinh Điền được ông Lê Xuân Quang sử dụng ghi lại trong bài viết ở cuộc hội thảo khoa học về Đinh quốc công Nguyễn Bặc như: “Đinh Điền là người cùng họ với vua là khai quốc nguyên huân theo vua từ lúc còn hàn vi thơ ấu, cho nên sau khi vua lên ngôi, chia nội giáp trong kinh thành giao cho Đinh quốc công Nguyễn Bặc phụ trách dưới quyền chỉ huy trực tiếp của vua, gọi là “Nội thống vạn cơ” (bên trong nắm giữ muôn mối) phong Đinh Điền làm Ngoại giáp cai quản mọi việc bên ngoài tức “Ngoại nhương tứ cảnh” (yên ổn bốn cõi bên ngoài). Tháng 10 năm Kỷ Mão (979) vua Đinh bị ngộ hại, tự quân còn nhỏ, Lê Hoàn giữ chức Thập đạo tướng quân nắm quyền nhiếp chính, Đinh quốc công Nguyễn Bặc bỏ triều đình về ở nơi ấp phong trong Châu Ái, Ngoại giáp Đinh Điền thì đem vợ là Thượng Trân phu nhân bỏ triều đình ra ở chùa Trúc Lâm vùng Hải Dương xin quy y thụ giới Kiều Mộc thiền sư. Khi nghe quan nhiếp chính xưng Phó Vương, Ngoại giáp Đinh Điền đùng đùng nổi giận, dặn dò Thượng Trân phu nhân, lúc đó đạo hiệu là Vi Thủy ở lại chùa, còn Ngoại Giáp thẳng vào Châu Ái cùng Đinh quốc công Nguyễn Bặc dấy quân về triều đình giết Lê Hoàn phù ấu chúa…”. Trong đó, cái hay là phả cho ta một định nghĩa về Nội giáp – Ngoại giáp mà chính sử mờ mịt.

Về các sách Hán Nôm: có một số Ngọc Phả, gia phả chữ Hán quan hệ đến Nguyễn Bặc chúng tôi đã sưu tầm được hoặc ghi lại được như:

Sách ở Viện Hán Nôm: Có một số sách nói tới Nguyễn Bặc:

1. Quốc sử di biên – một bản in, một bản viết A – 1045/ 0-2.718 trong Paris EFEO.MF 11/4/678 – có những phần đề cập đến Nguyễn Bặc.

2. Nguyễn Gia Phả Ký 1 bản viết 149 trang, có chữ Nôm A.2351 MF 1993. Gia phả họ Nguyễn từ thủy tổ Nguyễn Bặc trở đi.

3. Nguyễn Đình Bặc (Nguyên tộc thứ chi) gia phả do Nguyễn Văn Luân soạn, một bản viết 22 trang có chữ quốc ngữ VN 186 – Gia phả họ Nguyễn Bặc, Tướng quốc triều Đinh gồm thế thứ các đời, sự tích và văn thơ về việc đặt ngôi mộ tổ.

4. Nguyễn công tính gia phả (xã Vụ Cầu, tổng Vĩnh Châu, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ – Trưởng tộc Nguyễn Địch Tiến phụng sao, năm Khải Định 4 (1919) một bản viết 164 trang 1 mục lục có chữ nôm A-1217, các đời, các chi phái, danh hiệu, khoa bảng, quan tước, có nói về thủy tổ Nguyễn Bặc.

5. Nam Hà Ký văn tập có ba bản viết 28 trang, một tiểu dẫn, mục lục VHV 1759, 62 trang, VH2 2663, 62 trang nguyên bản sao lại năm 1964 theo bản Paris SA. HM 2204, 288 trang. Gia phả các chúa Nguyễn do Đặng Trọng An soạn có nói tới Nguyễn Bặc.

6. Hoàng triều Bảo tiệp 2 bản viết, có chữ nôm (bản A1326 15 trang và bản A563 9 trang), đây là cuốn gia phả thời Nguyễn từ Nguyễn Bặc công thần nhà Đinh đến Nguyễn Trãi thời Lê rồi Nguyễn Kim và đến Gia Long. Tác phẩm này do một nho sĩ Bắc Hà ít tiếng tăm viết ra thời Gia Long. Việc ghi Nguyễn Trãi, một Bình Ngô khai quốc công thần thời khởi nghĩa Lam Sơn và việc ghi Nguyễn Kim là con cháu Nguyễn Trãi thì không rõ tác giả căn cứ từ đâu? Các quyển phả của họ Nguyễn Phúc ở Huế từ xưa đến nay chưa có quyển nào ghi Nguyễn Kim là con cháu Nguyễn Trãi cả. Điều này cần thận trọng nghiên cứu kỹ.

7. Đại Nam quốc triều thế hệ. Phả hệ triều Nguyễn từ thế tổ thứ 19 là Hiệu úy Nguyễn Công Luật đến Nguyễn Gia Long có phần khảo tứ Nguyễn Bặc đến Nguyễn Hoằng Dụ, viết chữ nôm. Phần từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Ánh viết chữ Hán – A38 MF 186, 180 trang.

Tài liệu này cũng giống như nhiều quyển Quốc sử khác có một sai lầm nghiêm trọng là gán Nguyễn Hoằng Dụ là thân sinh ra Nguyễn Kim. Sự thực Nguyễn Hoằng Dụ chỉ là em cháu chú, cháu bác với Nguyễn Kim. Nguyễn Hoằng Dụ hiện nay còn mộ và con cháu ở Tâm Quy cũng thuộc huyện Tống Sơn (nay là Hà Trung). Ông Nguyễn Văn Thành đã công bố bài Thân phụ Nguyễn Kim là ai? trên sách “Cội nguồn”.

Chính sử nước ta kể cả Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn nói về tổ tiên Nguyễn Kim (nay đọc là Cam) như sau:

Bình ngô khai quốc công thần Nguyễn Công Duẩn sinh Nguyễn Đức Trung. Nguyễn Đức Trung sinh Nguyễn Văn Lang, Nguyễn Ngọc Hằng (Huyên) tức Huy Gia Thái Hoàng Thái hậu. Nguyễn Văn Lang sinh Nguyễn Hoằng Dụ. Nguyễn Hoằng Dụ sinh Nguyễn Kim (Cam).

Sự thực không phải thế. Các phả họ Nguyễn đều ghi: Hoành quốc công Nguyễn Công Duẩn sinh 7 trai là 7 chi. Ta lấy ba chi có liên quan để xét:

Chi cả: Trinh Quốc công Nguyễn Đức Trung sinh 6 trai, 8 gái trong đó con gái thứ hai là bà Nguyễn Thị Ngọc Hằng (Huyên) sau là Huy gia Hoàng Thái hậu.

Chi 4: Phó Quốc công Nguyễn Như Trác sinh Trừng Quốc Công Nguyễn Văn Lưu. Nguyễn Văn Lưu tài kiêm văn võ, có sức khoẻ bắt hổ, làm quan đến Đà Giang kinh lược sứ. Nguyễn Văn Lưu sinh Nguyễn Kim (Cam) và Nguyễn Tông Thái (Tổ họ Bế Cao Bằng).

Chi 5: Sảng Quốc công Nguyễn Văn Lỗ sinh 8 trai, Nguyễn Văn Lang là cả, Nguyễn Lữ là thứ 8, Nguyễn Văn Lang khởi binh ở Tây Đô, tôn lập Lê Tương Dực. Nguyễn Văn Lang sinh: Hoằng Dụ, Hoằng Uy, Nguyễn Điển và Thị Thanh. Nguyễn Hoằng Dụ sinh: Thái, Tế, Trí, Công, Thi và 2 gái: Bích, Vân.

Như thế phả 6 chi (vì tôi chưa tìm được phả chi 6, chi của Lỗ Khê Hối Nguyễn Văn Lễ) đều ghi thống nhất như trên. Nguyễn Hoằng Dụ chỉ là em cháu chú cháu bác với Nguyễn Kim. Nguyễn Văn Lang chỉ là em con chú của bà Hằng (Huyên) và bà Hằng thuộc chi I, Nguyễn Văn Lưu, Nguyễn Kim thuộc chi 4; Nguyễn Văn Lang, Nguyễn Hoằng Dụ thuộc chi 5. Ngoài ra, ta còn nhiều chứng cớ khác:

–  Ở Triệu Miếu (Huế) và Nguyên Miếu (Gia Miêu Ngoại trang) chỉ thờ Trừng quốc công Nguyễn Văn Lưu, không thờ An hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ. Mộ Nguyễn Văn Lang ở Tâm Quy, xã Hà Tân, Hà Trung, Thanh Hóa, còn bia mộ và chỉ do con cháu chi 5, nay đổi ra họ Phạm Nguyễn trông nom. Họ Nguyễn Phúc (họ Tôn Thất) không có nhiệm vụ trông nom.

–  Hộ Bộ Thượng Thư Chưởng sự Quỳnh Sơn hầu Nguyễn Lữ viết phả năm 1515. Đây là quyển phả rất được tin cậy. Nguyễn Lữ là em ruột Nguyễn Văn Lang, em con nhà chú với Nguyễn Văn Lưu tất biết rõ quan hệ này.

– Năm 1509, Nguyễn Văn Lang, Nguyễn Hoằng Dụ khởi binh ở Tây đô tôn phò Lê Tương Dực. Văn Lang còn có sức khoẻ bắt hổ, Hoằng Dụ chỉ là tướng trẻ thì Nguyễn Kim (1468 – 1545) đã 41 tuổi. Như thế Nguyễn Kim phải nhiều tuổi hơn Nguyễn Hoằng Dụ.

– Những điều nêu trên chứng tỏ phả của họ Nguyễn Phúc (họ Tôn Thất, ở Huế do nhà xuất bản Thuận Hóa xuất bản năm 1995) ghi Nguyễn Kim là con Trừng Quốc công Nguyễn Văn Lưu là hoàn toàn đúng.

Bài này được đăng trong Cội Nguồn 2, giấy phép xuất bản số 256 CXB Ngày 8/9/1997.

Ngoài ra, do chúng tôi tìm hiểu thêm các thần tích, bảng tra thần tích theo địa danh làng xã (Viện Hán Nôm) và địa chí các miền nên biết được:

– Đức Thánh Cả ở Bá Giang – Đan Phượng theo Đinh Bộ Lĩnh, Nguyễn Bặc, Đinh Điền đánh giặc có công, được vua ban cho đất Bá Giang lập nên làng mạc ở đây.

– 9 tướng Phù Ninh (Thuận Thành, Hà Bắc) là Vũ Công Hiển, Vũ Công Hán, Vũ Công Tố, Lê Công Chứ, Lê Công Đài, Trương Công Đức, Đặng Công Hoằng, Trương Công Nha, Đặng Công Tạo đều là người Phù Ninh, đều là trẻ chăn trâu như vua Đinh, lấy lá chuối làm cờ, lớn lên, trữ lương, mộ binh, dựng lá cờ to đề tên chín tướng. Chợt gió mạnh, bốc lá cờ cắm lên cửa thành nhà vua. Nguyễn Bặc tâu với vua Đinh rồi cầm lá cờ này đi dụ hàng. Các tướng theo về lập nhiều chiến công. Do Lê Hoàn thâm độc dèm pha với vua, buộc 9 tướng phải tự sát. Sau này, Tiên Hoàng biết 9 vị bị oan đã truy tặng tất cả là đại vương, giao cho dân Phù Ninh hương khói đến nay không dứt.

PHẦN II. PHÂN TÍCH KẾT LUẬN:

Qua các đợt đi điền dã, qua việc nghiên cứu sách vở từ những nguồn tư liệu trên, chúng tôi có thể chia các nhóm di tích đã khảo sát được ra như sau:

Nhóm I: Các đền chính thờ Định quốc công Nguyễn Bặc:

1. Miếu Đông Thượng, xã Khánh An, huyện Yên Khánh còn nguyên vẹn, hiện nay do cụ Ư trông nom quét dọn.

2. Đình Ngô Khê Hạ: nay chỉ còn tòa tiền tế 5 gian.

3. Đình Ngô Khê Thượng: Bị phá hủy hoàn toàn.

4. Đình Thanh Khê Thượng: Bị phá hủy hoàn toàn.

5. Đình Thanh Khê Hạ: Bị phá hủy hoàn toàn.

6. Miếu ở bờ sông Chanh: Bị phá hoàn toàn, dân đã làm nhà lên nền cũ. Miếu này gắn với sự kiện Lê Hoàn cho quân hành hình Nguyễn Bặc làm trời đất phẫn nộ.

7. Một miếu khác nằm trong địa phận xã Ninh Hòa cũng bị phá hoàn toàn.

8. Đình Phú Cốc (gần chợ Gạo) ở Vụ Bản thờ Nguyễn Bặc mới sửa lại.

Di vật còn sót lại ở 4 đình 2 miếu xã Ninh Hòa là: 1 tượng Nguyễn Bặc lớn hơn người thật, hiện được thờ ở nhà thờ Nguyễn Lý thuộc thôn Ngô Khê Hạ và 10 đạo sắc phong, 1 bản sao sắc phong của bộ Lễ. Các sắc đều ghi: Sắc Đinh Định Quốc Công…

Nhóm I này đã có 10 ảnh, 6 sắc phong minh họa.

Nhóm II: Các đền thờ, người coi giữ và dân địa phương đều khẳng định là thờ Nguyễn Bặc nhưng tư liệu lại nói lên là thờ người khác. Đó là hiện tượng “hữu danh vô hình”, “trá hình”, gồm có:

1. Đền Hiềm ở Phúc Am ghi là thờ Quý Minh sự thực lại thờ Nguyễn Bặc, gắn với cái chết của ông.

2. Đền Đô Thiên thờ Đô Thiên Đại Thánh nhưng tương truyền có vết máu của Định quốc công mà dụng nên.

3. Cụm 5 đình: ở Cổ Điển, Văn Điển, Yên Ngưu, Đình Trung, Đồng Trì không thấy bài vị của Định quốc công mà có bài vị Nguyễn Phục, sự thực là thờ Nguyễn Bồ, Nguyễn Bặc theo khẳng định của dân và hồ sơ công nhận di tích lịch sử.

Nhóm II này có 3 ảnh đền Hiềm và 3 ảnh đền Đô Thiên.

Nhóm III: Nơi phối thờ Định quốc công Nguyễn Bặc: Ông Dương Văn Vượng cán bộ nhà Bảo tồn Bảo tàng Nam Định, từng làm công tác thống kê di tích lịch sử tỉnh Hà Nam Ninh cũ cho biết: Tỉnh Hà Nam Ninh cũ có tới 134 nơi thờ và phối thờ Định Quốc Công.

Đền Vua Đinh ở Trường Yên, Gia Phương, Đền Ba Dân (Kim Bảng), Đền Vua Đinh ở ý Yên… nơi nào cũng có thờ Định quốc công và Ngoại Giáp Đinh Điền. Chúng tôi chưa thấy nơi nào thờ Vua Đinh mà không phối thờ hai vị công thần này.

Nhóm IV: Nơi thờ các vị thần khác nhưng có nhắc tới Định quốc công gồm:

1. Các nơi thờ Đinh Điền ở huyện Yên Khánh đều có sự tích Đinh Điền cùng Định quốc công chống Lê Hoàn (có ảnh).

2. Chùa Long Hoa ở xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam thờ Đinh Bang, Chân Nương lại có chuyện Định quốc công đóng quân, thu nạp Đinh Điền, Đinh Bang theo Vua Đinh đánh giặc.

3. Đền, chùa ở Bến Vạc: Đinh Điền về đây chuẩn bị lực lượng cùng Định Quốc Công chống Lê Hoàn.

4. Đình Động Phí ở Ứng Hòa Hà Tây thờ Bạch Tượng đại vương, nhưng có chuyện Bạch Tượng theo Vua Đinh, Nguyễn Bặc, Đinh Điền đi đánh giặc.

5. Đền Phù Ninh – Thuận Thành: thờ 9 tướng do Nguyễn Bặc thu phục được, đánh giặc có công, sau bị Lê Hoàn dèm pha phải tự sát.

6. Đền An Lá vùng Nam Trực có sự tích Định quốc công đánh đuổi sứ quân Kiều Công Hãn về đây. Kiều Công Hãn cùng đường tự sát.

7. Đền Đức Thánh Cả ở Bá Giang – Đan Phượng: Thờ Thánh Cả nhưng có chuyện ngài theo Vua Đinh, Nguyễn Bặc, Đinh Điền dẹp loạn 12 sứ quân, được Vua Đinh cho đất Bá Giang lập ấp xây làng.

Các đền thờ (phả ghi 72 cái) thờ Hoài Đạo Hiếu Vũ Vương Nguyễn Nộn ở vùng Nam – Bắc sông Đuống đều ghi Nguyễn Nộn là hậu duệ Nguyễn Bặc.

Nhóm V: Các di tích không trực tiếp liên quan tới Định quốc công nhưng liên quan đến người có quan hệ với Định Quốc Công.

1. Miếu Thượng và Bãi Vàng – Bát Long Tự: Nơi diễn ra việc Lê Hoàn sát hại Lưu Cơ, Trịnh Tú cùng hai bộ tướng trung thành với nhà Đinh còn lại sau nội chiến và chiến tranh chống Tống. Trong việc thực hiện âm mưu đó, 4 tướng của Lê Hoàn cũng bị giết. Để giải oan dân lập đền thờ 8 tướng (bát long). Có ảnh, có thơ khuyết danh và thơ dân gian minh họa.

2. Giáp Mau xã Thiệu Long, huyện Thiệu Hóa:

Đất bản bộ của Dương Tam Kha, có sự tích Dương Thị, con gái Tam Kha gặp Lê Hoàn yêu nhau từ thuở còn hàn vi. Khi dẹp sứ quân Ngô Xương Xí, Đinh Tiên Hoàng có đến đây yết kiến Tam Kha và sau đấy lấy Dương Thị người tình cũ của Lê Hoàn. (Có 6 ảnh minh chứng).

Nhóm VI: Các di tích do dòng họ trông nom: mộ Nguyễn Bặc do họ Nguyễn ở thôn Vĩnh Ninh trông nom truyền nhau 13 đời, có phả và nhà thờ Định Quốc Công. Mộ phát tích họ Nguyễn do họ Nguyễn thôn Vân Hà trông nom. Đã 13 đời, có nhà thờ tổ họ Nguyễn Bặc và Trinh quốc công Nguyễn Đức Trung.

Hàng trăm nhà thờ họ các nơi thờ viễn tổ Nguyễn Bặc.

Báo cáo này được hoàn thành, chúng tôi xin trân trọng cảm tạ Giáo sư Phan Văn Các – Viện trưởng Viện nghiên cứu Hán Nôm; bà Nguyễn Thị Giang – quyền Giám đốc Bảo tàng Hà Tây; các vị lãnh đạo Sở Văn hóa, Bảo tàng Ninh Bình, Nam Định; UBND và Phòng Văn hóa thành phố Thanh Hóa; các cá nhân, tập thể, các chi họ có quan hệ ở các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa; ông Nguyễn Quang Trung, Phòng Lịch sử địa phương Viện Sử học… đã tạo mọi điều kiện cho các cuộc điền dã thắng lợi.

(1) Bài này Đinh Công Vĩ viết chung với KS. Nguyễn Văn Thành.

(2) Trước kia là thôn Bái Đoài. Đông Xá sau là thôn Tứ.

* Nguồn: NHÌN LẠI LỊCH SỬ, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2003, Tác giả: KS. PHAN DUY KHA – TS. LÃ DUY LAN – TS. ĐINH CÔNG VĨ.

Link:    http://vietsuky.wordpress.com/2012/12/18/237-dien-da-khao-sat-cac-di-tich-lich-su-cac-tu-lieu-thanh-van-ve-dinh-dien-nguyen-bac-duong-hau-le-hoan/

Xem lại:

GIA PHẢ BỔ SUNG LÀM MINH XÁC CHÍNH SỬ

DƯƠNG THÁI HẬU – NÉT ĐỘC ĐÁO TÌNH SỬ

GÓP PHẦN LÀM SÁNG TỎ HÌNH ẢNH ĐINH ĐIỀN – NGUYỄN BẶC

NGƯỜI PHỤ NỮ BA LẦN LÀ HOÀNG HẬU VÀ VỤ ÁN LỊCH SỬ: AI GIẾT VUA ĐINH?

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: