‘Cày đi cày lại tốt hơn cày 1 lần’ là lầm to!

GS.TSKH Lê Tuấn Hoa: “Việc lấy kiến thức từ lớp trên dạy xuống lớp dưới chỉ tổ lợi bất cập hại”.

LTS: GS.TSKH Lê Tuấn Hoa, Chủ tịch Hội Toán học VN, Giám đốc điều hành Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (GS Ngô Bảo Châu là Giám đốc khoa học của Viện này) đã dành cho Giáo dục Việt Nam một buổi trò chuyện sâu sắc xung quanh 4 vấn đề chính: Về thực trạng chương trình và việc dạy – học hiện nay; Về thi học sinh giỏi Toán; học Toán để làm gì; và về GS Ngô Bảo Châu. 

 Chúng tôi xin lần lượt đăng tải nội dung cuộc trò chuyện với GS Lê Tuấn Hoa theo những nội dung trên. Bài đầu tiên là về thực trạng chương trình và việc dạy – học hiện nay. 
‘Cày đi cày lại tốt hơn cày 1 lần’ là lầm to!
Học sinh bây giờ sướng hay khổ?
– Thưa GS, trong một bài phỏng vấn cách đây không lâu, GS Phạm Minh Hạc có nói là học sinh bây giờ sung túc nhưng không sung sướng, vì phải học thêm nhiều, chương trình nặng… Còn theo ông thì học sinh bây giờ sướng hay khổ? 
Từ năm 2009, Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam có tổ chức đánh giá chương trình sách giáo khoa phổ thông. Lúc đó là đánh giá chương trình sách giáo khoa cấp 1 và cấp 2 và một ít là sách cấp 3. Thời điểm đó, Hội toán học Việt Nam có tham gia nghiên cứu kỹ, tổ chức nhiều buổi thảo luận và kéo dài hơn nửa năm.
Khi đi vào nghiên cứu kỹ, chúng tôi thấy rằng trong những điểm dư luận chỉ trích sách giáo khoa, có cái đáng chỉ trích thì không chỉ trích, có cái không đáng lại đi chỉ trích.
Tuy nhiên theo quan điểm của chúng tôi, những kết luận phải mang tính chất khoa học, tức là theo quan điểm của nhóm chúng tôi là đúng, nhưng có thể nhóm khác lại không cho là như vậy. Trong khoa học cần trao đổi thẳng thắn, nếu cần thì đối chất trực diện, nhiều lần và phải tôn trọng nhau, với mục đích cuối cùng là tìm ra chân lí.Trong khoa học chưa hẳn ý kiến số đông là đúng. Vì thế, khi đó chúng tôi đề nghị không đưa ý kiến của chúng tôi ra công luận. Đưa ra dư luận những thảo luận trung gian không hẳn là tốt, mà còn làm rối loạn ý kiến, gây mất lòng tin và thậm chí làm mất tính nghiêm túc nếu trong ý kiến trao đổi lại không thể hiện sự tôn trọng cần thiết.
Dư luận nói học sinh bây giờ học nặng là đúng. Học sinh phải học nặng tất cả các môn chứ không riêng gì môn Toán. Nhưng trong đó, đặc biệt là môn Toán. Thế nhưng, nguyên nhân dẫn tới học nặng không thể đổ lỗi hoàn toàn cho chương trình hay sách giáo khoa.
Có một điều chắc chắn là: Tổng số lượng kiến thức của chương trình toán hiện nay không nặng hơn so với ngày xưa. Đây không phải là cảm tính. Mới đầu chúng tôi cũng không nghĩ như thế. Nhưng sau khi nghiên cứu và so sánh với trước kia, so sánh với các nước khác thì thấy rằng tổng số lượng kiến thức môn Toán không có nhiều thay đổi.
– Vậy việc dư luận cho rằng chương trình hiện nay nặng hơn trước là do đâu thưa ông?

Theo nghiên cứu của chúng tôi, số lượng học cụ thể nặng hơn trước rất nhiều vì 2 lý do chính.
Một là cấu tạo của sách giáo khoa của chúng ta hiện nay có những điều chưa hợp lý. Nói điều này chắc ít ai phản đối. Còn những điều bất hợp lí cụ thể là gì thì tôi không muốn nêu rõ vì lí do đã nói ở trên.
Nhưng lí do nghiêm trọng hơn, theo chúng tôi, chính là do việc dạy nhảy cóc. Học nhảy cóc lại không hoàn toàn do lỗi của sách giáo khoa.
Hiện tượng khá phổ biến là đem kiến thức từ lớp trên dạy xuống lớp dưới. Nó có thể xảy ra cả ở giờ học chính thức hoặc giờ dạy thêm. Điều đó lí giải tại sao dù học mất rất nhiều thời gian, nhưng khi hết chương trình thì kiến thức về Toán vẫn không hơn đáng kể so với trước đây (dĩ nhiên là nếu quy đổi cùng số năm học).
Chẳng hạn, bây giờ khá phổ biến là khi hết lớp 11 hoặc nửa lớp 12, các em đã được dạy hết chương trình Toán phổ thông. Có trường còn kết thúc sớm hơn. Sách viết cho 12 năm đem học trong 11  năm hoặc thậm chí ít hơn dĩ nhiên là nặng rồi.
Lại để dành hẳn 1 năm hoặc hơn để luyện các bài tập, rõ ràng làm cho việc học trở thành gánh nặng.
Chính việc dạy nhanh, không hệ thống khiến học sinh nắm kiến thức không vững. Trong học Toán, ý nghĩ “cày đi cày lại sẽ tốt hơn cày 1 lần” quả là sai to.
Đó cũng là lý do giải thích tạo sao nhiều học sinh thành phố học nhiều hơn nông thôn mà kết quả thi đại hoc lại kém hơn so với các em nông thôn. Nhiều khi số em thủ khoa ở nông thôn lại nhiều hơn thành phố.
Như vậy, có thể khẳng định các em học sinh đang học nhiều nhưng kiến thức lại không chắc và việc lấy kiến thức từ lớp trên dạy xuống lớp dưới chỉ tổ “lợi bất cập hại”.
– Theo quan điểm của ông, học sinh bây giờ sướng hay khổ so với học sinh ngày xưa? 
Nói về sướng hay khổ là nói về triết lý. Sướng hay khổ là tổng cộng nhiều thứ. Ngoài chuyện học còn các chuyện khác.
Ví dụ như trong gia đình các em có được vui chơi hay không, có được tạo điều kiện thuận lợi cho học tập hay không?
Học sinh ngày xưa chẳng mấy khi biết phim ảnh, bụng lúc nào cũng đói, mà nói một cách tuyệt đối là sướng hơn bây giờ, chắc là khó tin nổi. Cho nên, cần nói cụ thể hơn sướng hay khổ ở những chỗ nào, lúc nào… Vì vậy, tôi không bàn sâu đến việc này.
– Ở gia đình của mình, các con ông có đi học thêm ngoài?
Tôi rất chú trọng cho các cháu nắm vững kiến thức chứ không khuyến khích các cháu học kiến thức lớp trên. Cũng là một kiến thức nhưng trình bày theo kiểu này, kiểu khác khiến các cháu thích thú hơn.
Còn chuyện các cháu có tiếp thu được hay không là phụ thuộc vào nhiều thứ, chứ không phải con của giáo sư sẽ trở thành giáo sư. Mỗi cháu có một có một sở thích, khả năng riêng và tùy theo đó mà phát triển.
Cả hai đứa con tôi khi học tiểu học không đi học thêm tý nào. Đến cấp trung học cơ sở có học thêm đôi chút không nhiều như các em khác, mà chủ yếu học thêm để vào đội tuyển Toán của trường.
Mặc dù tôi không khuyến khích, nhưng khi học THPT cậu con đầu đi học thêm khá nhiều (dù vẫn ít hơn  so với các bạn cùng lớp), song kết quả thi đại học thua xa bố mẹ cháu trước đây.
– Rõ ràng, dù đã hướng không cho con đi học thêm nhưng cuối cùng chính giáo sư cũng phải đồng ý để cháu đi học thêm do ý thích của cháu? 
Điều này khó thay đổi được. Sống trong một xã hội, chúng ta không thể không bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh.
Việc học thêm, dạy thêm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: cách dạy của thầy cô, yêu cầu của phụ huynh, phong trào của bạn bè, tâm lí của chính bản thân học sinh… Đó là chưa kể những  tiêu cực khác.
Chẳng hạn, nếu thầy nào đó có ý thức dành thời gian dạy kiến thức cơ bản, thì một số phụ huynh sẽ cho rằng thầy này kém, không giảng được dạng toán nào hay ho cả. Khi đó họ  đi tìm thầy khác ở bên ngoài. Đương nhiên sau một số năm “mất uy tín” (cho dù là oan) như vậy, thầy đó sẽ không còn bản lĩnh đi theo chính kiến của mình.
Trường Giang
+ + + + +

‘Hãn hữu GS Ngô Bảo Châu mới dùng quyền quyết định cao nhất’

Viện nghiên cứu cao cấp về toán và GS Ngô Bảo Châu
– Đã 1 năm sau khi thành lập, là giám đốc điều hành Viện Toán cao cấp, ông thấy vai trò của Viện như thế nào trong đời sống toán học nước nhà?
Về khoa học nói chung và về toán học nói riêng hay bất cứ điều gì thì không thể tạo ngay ra một sự thay đổi tức thì, một thay đổi rõ ràng được. Nó chỉ mới bắt đầu khởi sắc và bắt đầu tạo ra tiền đề. Đây là nơi bồi dưỡng để những người thầy càng ngày càng giỏi hơn.
Hầu hết mọi người đều cho rằng đây là một môi trường tốt. Nhiều người từng đi nước ngoài nhiều lần có nhận xét Viện tương tự như ở nước ngoài. Đối với những người ít đi  thì cho rằng đây là môi trường chưa từng thấy, giúp làm việc hiệu quả. Với cương vị là giám đôc điều hành tôi luôn xem đó là những lời động viên, khích lệ, chứ không xem là một sự hoàn hảo. Do vậy tôi luôn nhắc nhở Văn phòng phải cố gắng nhiều hơn nữa.
– Việc liên lạc làm việc giữa ông và GS Ngô Bảo Châu diễn ra như thế nào?
Vì có internet nên sự trao đổi, kết nối giữa tôi và giáo sư Ngô Bảo Châu rất thuận tiện. Những công việc điều hành hàng ngày thì tôi làm không nhất thiết phải có anh Châu, nhưng những vấn đề lớn thì hai anh em đều trao đổi với nhau thường xuyên qua internet thậm chí qua điện thoại. Ví dụ như nên mời những nhà toán học nào trên thế giới đến làm việc khi tổ chức một sự kiện lớn. Tất nhiên người quyết định cuối cùng chọn ai, định hướng như thế nào là anh Châu trên cơ sở tư vấn của Hội đồng khoa học. Khi họ đến rồi thì tôi là người chịu trách nhiệm tạo điều kiện cho họ làm việc tốt nhất.
– Trong công việc, ông và GS Ngô Bảo Châu liệu có những bất đồng?
Chúng tôi tranh luận rất nhiều, nhưng rất may đến nay vẫn chưa có bất đồng gì. Các mảng phụ trách của chúng tôi tương đối khác nhau. Anh Châu quan tâm đến những chuyện chiến lược, định hướng lớn, còn những việc làm cụ thể thì anh Châu không có thời gian. Anh còn có nhiều việc phải làm bên Chicago. Vì vậy, thực ra việc cũng không bị chồng chéo nhau.
Còn chuyện định hướng thì đều có sự trao đổi, tranh luận rất nhiều trong hội đồng khoa học gồm 14 người. Có những lúc rất căng thẳng, nhưng cuối cùng đều đi đến kết luận và mọi người đều vui vẻ. Chúng tôi rất tôn trọng nhau.
– Trong khi làm việc cùng nhau, ông nhận thấy có những điểm nổi bật gì trong cách làm việc của GS Ngô Bảo Châu?
Anh Châu là nhà khoa học lớn của thế giới. Vì vậy không có chuyện vì lý do cá nhân mà anh quyết định chuyện này hay chuyện khác. Anh cũng không ỷ lại việc anh có địa vị toán học cao hơn hẳn mà không lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp trong Viện.
Chúng tôi luôn tranh luận với nhau một cách thẳng thắn không câu nệ anh ấy có trình độ Toán học cao, hay là tôi già hơn. Nhưng chúng rất tôn trọng nhau. Dựa trên ý kiến của nhiều người, chúng tôi cùng đưa ra quyết định. Chỉ có những trường hợp vô cùng hãn hữu anh Châu mới phải dùng đến quyền quyết đinh cao nhất của mình để đưa ra kết luận. Bình thường lấy đa số là chính.
– Đối với bản thân GS, trước 1 vấn đề khoa học liệu ông có sự “nể nang” đối với thầy của mình?
Trong khoa học thì chân lí là cao nhất, nên không thể có chuyện nể nang trước sự đúng sai. Ý anh nói chắc là câu chuyện hành chính.
GS Ngô Việt Trung là thầy hướng dẫn luận án tiến sĩ của tôi (cùng với một giáo sư nước ngoài). Vì vậy, tôi với giáo sư rất thân thiết với nhau, và tôi vẫn gọi là anh. Nhưng khi cùng điều hành Viện Toán học (anh là Viện trưởng từ 2007, còn tôi là Phó Viện trưởng từ 1998), thì tôi và anh lại là hai người thường xuyên tranh luận quyết liệt với nhau.
Nếu không có ẩn ý cá nhân, thì đều có thể tranh luận với nhau mà không xảy ra mâu thuẫn gì cả. Dù có ý thức thực thi một khi thủ trưởng đã quyết, nhưng trong quá trình thực thi nếu thấy sai lệch tôi vẫn tiếp tục tranh luận. Đôi khi tôi sai, nhưng đôi khi cũng đã làm thay đổi quyết định đã ban hành.
– Đối với những người học trò của mình, GS sẽ cư xử như thế nào?
Tôi rất thích sự bình đẳng. Mà muốn bình đẳng phải tạo tra môi trường bình đẳng. Vì vậy, nhiều học  trò kém tôi vài chục tuổi hẳn hoi, sau khi bảo vệ luận án, luận văn (tiến sĩ, thạc sĩ, đại học) tôi đều đề nghị thôi không “thầy trò nữa”, mà chuyển sang gọi là “anh em”. Một số đồng ý, một số không. Nhưng tôi cho rằng chuyển gam sẽ tốt hơn. Khi đó tranh luận đúng sai (nhất là trong thảo luận khoa học) sẽ dễ hơn.
Chính vì vậy, dù trong bậc phổ thông tôi có giúp Châu học một thời gian, và khi đó chúng tôi gọi nhau là “chú cháu”. Nhưng ngày Châu báo tin với tôi là vừa bảo vệ xong luận án Tiến sĩ, tôi đã đề nghị ngay là chuyển sang “anh, em”. Rất may là Châu đồng ý. Sau này khi Châu trở nên nổi tiếng, tôi càng thấy đề xuất của mình thật sáng suốt (Cười vui).
– Xin cảm ơn Giáo sư!
+ + + + +

Công ty phần mềm tuyển nhiều tiến sĩ toán: Thừa tiền?!

Học Toán để làm gì?

– Về chương trình sách giáo khoa, hầu hết các giáo sư uy tín đều kêu chương trình quá nặng, kể cả môn Toán. GS Văn Như Cương nói: “Trừ các nhà Toán học ra còn thì trong xã hội chả có ai dùng đến đạo hàm, tích phân. Vậy bắt học sinh học để làm gì?”. Ông có đồng tình bỏ những kiến thức quá chuyên sâu về toán như vậy trong sách giáo khoa phổ thông? 
GS.TSKH Lê Tuấn Hoa: Tôi cho rằng tất cả các kiến thức toán đều có ý nghĩa trong thực tế. Vấn đề cần phải dạy cho học sinh hiểu kiến thức ấy được áp dụng trong thực tế như thế nào thì lại là một câu chuyện khác. Mình có dạy được hay không và có dạy thành công hay không lại là một câu chuyện khác nữa.
Đất nước mình muốn hội nhập quốc tế thì thế giới dạy những kiến thức nào, mình phải dạy kiến thức đó. Nếu mình lại dạy một trình độ thấp hơn thì học sinh Việt Nam sang nước ngoài học đại học làm sao có thể theo được chương trình? Tôi nói đó chỉ là một ví dụ để dễ so sánh, chứ tất nhiên không hề muốn nói mục đích của học phổ thông để rồi đi nước ngoài học đại học.
Khi chúng tôi nghiên cứu chương trình thì thấy rằng tổng số kiến thức trang bị cho học sinh ở Việt Nam hoàn toàn không cao hơn so với các nước khác.
Tôi cũng biết không chỉ có GS Văn Như Cương mà nhiều người khác cũng có ý kiến như vậy.
Vậy vấn đề là ở chỗ nào? Theo tôi, chính là sự phân hóa. Những học sinh nào muốn học lên đại học thì mới cần học đạo hàm, tích phân. Còn có những em sau này không học đại học, thì không nhất thiết cần học ngay các kiến thức đó. Nếu không phân hóa như vậy mà làm một kết luận chung chung cả gói như trên rõ ràng là bất hợp lí.
Ở các nước, sau bậc THCS thì chỉ có một số học sinh (tỉ lệ phụ thuộc vào từng nước) học lên THPT và vào học đại học. Với các em đó họ đều học khối lượng Toán đại loại như chúng ta đang dạy. Còn những học sinh sẽ học nghề, học trung cấp thì chương trình sẽ khác. Tất nhiên nếu sau đó các em (dù đã đi làm) lại muốn vào đại học, thì vẫn phải học các kiến thức đó. Có điều lùi lại thời gian mà thôi!
– Như vậy, mục đích chính của việc học Toán có phải là đào tạo ra những nhà khoa học nghiên cứu về Toán?

Tất nhiên là không. Học Toán mục đích là ngoài học kiến thức cụ thể còn là học phương pháp tư duy. Mà muốn học tư duy thì phải có một lượng kiến thức nhất định. Môn Toán và môn Văn là hai môn mà tất cả các nước đều dạy. Điều đó không phải là tình cờ.
Tất nhiên các môn khác cũng giúp tư duy, nhưng tất cả các nước đều dạy 2 môn đó nhiều nhất là phải có lí do của nó chứ. Lý do đó có thể dựa trên những luận cứ khoa học, trên những thống kê.
Có thể điều đó trở thành hiển nhiên đến mức người ta không cần nêu lí do nữa. Vì vậy có người không tin, cho rằng điều đó chỉ là cảm tính mà thôi.
Như vậy học Toán là để có khả năng tư duy tốt, để sau này học các ngành, nghề khác. Chỉ cần một số rất ít sau này theo đuổi nghiên cứu khoa học, và số ít trong số ít đó nghiên cứu về Toán! Nếu hiểu đúng như vậy, ta sẽ thấy học Toán không có tội tình gì, mà chỉ có lợi.
– TS Lương Trần Công Khanh, người từng làm luận án tiến sĩ nghiên cứu, so sánh về 2 nền giáo dục Việt – Pháp thì cho rằng học sinh Việt Nam hiện nay “khổ” hơn học sinh các nước tiên tiến. Ông Khanh nhận xét: “Nhiều em học sinh không hiểu gì về một dạng toán nhưng vẫn có thể giải bài dễ dàng và đúng khi đã được học về dạng toán đó”. 
Phải chăng chúng ta đang đào tạo ra những “thợ làm toán” theo khuôn mẫu chứ không phát triển tư duy toán học của học sinh?
Cách đặt vấn đề đó tôi không đồng tình lắm. Ở Việt Nam hiện nay có nhiều thầy cô dạy trước chương trình nhằm dạy các dạng toán. Dạy như vậy gọi là làm toán chứ không phải giải toán.
Các bài đó có mẫu sẵn cứ thế mà làm. Ví như cấp 1 tất cả hoc sinh phải học bảng cửu chương. Vì vậy, thời chúng tôi học cấp một, môn Toán được gọi là học tính. Học tính nghĩa là học 1+1=2; 1+2=3… cứ như thế và học thuộc chứ không có cách nào khác. Đấy chỉ là học thuộc.
Còn giải toán thì đều yêu cầu vận dụng tư duy, dù rằng mức độ tư duy ở mỗi bài có thể rất khác nhau. Điều đó giải thích tại sao phải học cao hơn mới có khả năng giảng lại những điều thấp hơn rất nhiều cho học sinh.
Nếu không hiểu rằng dạy và học Toán là dạy và học tư duy thì chẳng ai hiểu nổi tại sao giáo viên tiểu học lại phải học hết trung học phổ thông, chứ đừng nói là phải có bằng cao đẳng như ở nước ta hay bằng đại học như ở nhiều nước.
– Thưa ông, vậy có thể phân biệt việc làm toán và giải toán khác nhau như thế nào?
Tôi xin lấy một hình ảnh cụ thể trong đời sống, dù hơi thô thiển, để làm rõ sự sai khác của hai khái niệm trên.
Chẳng hạn khi đi đến ngã ba đường, nếu có các bảng chỉ dẫn đi về các hướng khác nhau, thì cứ thế mà đi đến đích mình cần. Điều này cũng tương tự với việc làm toán. Có mất công, có nhọc nhằn không? Có chứ! Phải mất công để đi, chứ đứng yên thì chẳng bao giờ đến đích.
Vẫn là tình huống trên, nhưng đến ngã ba đường lại không có bảng chỉ dẫn, ngoài việc chắc chắn có một con đường dẫn đến đích. Bằng kiến thức, anh phải suy nghĩ xem rẽ hướng nào là đúng. Dĩ nhiên phán đoán có thể sai, nhưng nếu tư duy tốt thì phải đảm bảo khả năng đúng là 80% hoặc hơn chẳng hạn. Để đảm bảo điều đó, những người tham gia giao thông phải sử dụng một phần kiến thức để phán đoán và suy nghĩ, chứ nếu không chỉ là đoán mò. Điều này tương tự với việc giải toán vậy.
Như vậy, khi một người giáo viên cung cấp cho học sinh các dạng, để rồi sau đó lắp số liệu vào thì đó là làm toán chứ không phải là giải toán. Mà số lượng dạng Toán thì có thể sáng tác thoải mái. Nên học theo kiểu như vậy vừa tốn kém thời gian, vừa chẳng còn tý hấp dẫn nào.
– Điểm tuyển sinh đầu vào ngành toán các năm trở lại đây thường không cao bằng một số ngành kinh tế khác. Phải chăng, các em học sinh giỏi ở phổ thông hiện nay không “mặn” học chuyên sâu về toán?
Không phải ai đi học toán cũng phải đi làm nghề toán. Học toán để giúp học sinh học các ngành khoa học kỹ thuật, khoa học khác, thậm chí chỉ để học một nghề khác tốt hơn.
Một số ít em theo nghề toán vì có sự đam mê và cũng phải thấy được nghề này có thể nuôi sống được bản thân và gia đình.
Học sinh hiện nay không mặn mà với nghề toán là do các em không nhìn thấy tương lai. Một phần trách nhiệm ở đây thuộc về các chính sách của Nhà nước.
Ở trên thế giới cũng vậy, đi theo nghề toán thì không bao giờ giàu nhưng mà đảm bảo cuộc sống. Vì vậy, một số em thấy không cần phải trở thành tỉ phú, triệu phú lại có đam mê thì sẽ đi theo nghề toán.
Nghề toán không thể làm giàu nhưng cũng đủ sống, không phải đi làm thêm. Thỉnh thoảng người ta cũng có thể thu xếp đi du lịch ở một nơi đơn sơ nào đó (chứ không phải là những chỗ xa xỉ).
Không chỉ có nghề toán mà bây giờ nghề nghiên cứu khoa học cơ bản cũng ít được các em học sinh lựa chọn. Nhiều em không thích không hẳn vì không có đam mê mà trước hết các em không thấy theo đuổi con đường khoa học vẫn có thể sống được.
– Vậy phải chăng chúng ta chỉ nên phát triển khoa học ứng dụng chứ không nên theo các ngành khoa học cơ bản vì khó kiếm được nhiều tiền?
Nếu không có khoa học cơ bản thì đất nước sẽ không thể phát triển. Không ít người cho rằng: “Chỉ những nước giàu mới chơi sang để chi cho toán”. Nhưng quan niệm đó là hoàn toàn sai lầm.
Điển hình của việc một nước còn nghèo mà nghĩ đến khoa học cơ bản đó là Hàn Quốc. Những năm 60, 70 nước này còn rất nghèo, nhưng chính phủ Hàn Quốc hết sức chú trọng đến việc phát triển khoa học cơ bản, trong đó có Toán và dần dần họ vực lên. Đến bây giờ đã có tiềm lực, tốc độ phát triển của họ trong khoa học cực kì cao.
Không có khoa học cơ bản thì không thể sản xuất được những sản phẩm công nghệ cao để bán ra nước ngoài. Mà công nghệ cao mới đem đến tỷ trọng xuất khẩu tốt. Làm thế nào chế tạo ti vi, điện thoại mà không cần đến Toán và công nghệ cao?
Nếu mình nhập từ nước ngoài không bao giờ mình có thể bán được vì mình chỉ được nhập những cái lạc hậu. Mà cứ cho là dựa vào nhập công nghệ đi, thì có đủ kiến thức mới biết được nó có lạc hậu không, và nhập rồi mới biết cách khai thác.
Chuyện làm thế nào để ứng dụng được là một vấn đề lớn. Thậm chí hiểu được nó đang ứng dụng loại kiến thức gì cũng không dễ. Rất nhiều cái khoa học đang được ứng dụng rộng rãi rồi đấy, nhưng người tiêu dùng hoặc là không hiểu, hoặc là không cần hiểu.
Chẳng hạn không có phần mền toán học không thể có được điện thoại tốt hơn, và do đó không bán được điện thoại. Trong giai đoạn nghiên cứu phần mền toán học đó, cần đến Toán lý thuyết. Có thể là những cái đã có, mà cũng có thể là cái mới. Nhưng người tiêu dung mấy ai biết. Điều đó chẳng có gì đáng trách, vì nhiều người có chuyên môn cao cũng chỉ biết công ty sản xuất đang dùng Toán, còn dùng kiến thức cụ thể nào thì là bí mật của công ty! Đến khi bán điện thoại, thu được tiền chắc chắn ít người cho rằng Toán đã góp phần làm ra tiền. Hầu như ai cũng nghĩ tiền đó do các hãng điện thoại làm ra.
Đó là lí do vì sao các công ty phần mềm tin học trên thế giới đều thuê rất nhiều người là tiến sĩ toán, lý và trả lương rất cao. Không phải do thừa tiền mà người ta làm chuyện đó!
– Phải chăng nhiều người đã không hiểu khi cho rằng các ngành khoa học cơ bản luôn phải tạo ra các sản phẩm ứng dụng nhìn thấy được trong thực tế?
Ở Việt Nam các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà toán, rất hay bị kêu là làm những cái trời ơi đất hỡi, không có ứng dụng. Từ diễn giải trên có thể thấy ngay kiểu qui kết đó không đúng.
Một vài kiểu “ứng dụng” khác. Sử dụng tư duy trong công nghệ, trong kinh doanh… cũng là một kiểu ứng dụng đấy chứ! Nếu dạy tốt mà được trả công cao, thì ta cũng dễ thấy Toán làm ra tiền đấy chứ.
Tôi để “ứng dụng” trong ngoặc kép để khỏi làm phiền lòng những cách hiểu truyền thống. Theo tôi mục đích cao cả của ứng dụng suy cho cùng là làm ra tiền. Còn làm ra trong công đoạn nào hay hình thức nào không quan trọng. Tại sao trong thời đại trí thức lại hạn chế phạm vi ứng dụng để rồi chỉ trích?
– Phải chăng việc học các kiến thức về toán học ở đại học hiện nay là thừa? Hầu như tất cả các kiến thức học tại đại học không được dạy tại phổ thông. Tại sao khi lên đại học lại phải học những điều đó mà không học lại kiến thức phổ thông để các sinh viên sư phạm dạy học sinh sau này?
Nếu nhìn một cách đơn sơ như vậy thì thấy rằng chương trình trên đại học là thừa. Nhưng không thừa chút nào bởi chính vì được học các kiến thức cao người ta mới nhận thức được tư duy ở bậc cao. Từ đó, khi quay trở lại dạy cho học sinh, nhờ kiến thức cao hơn mà thầy cô giáo mới hiểu rõ bản chất hơn, và mới có khả năng diễn giãi các kiến thức phổ thông một cách tường tận được, đồng thời mới lồng ghép dạy khả năng tư duy.
Vì vậy quá trình dạy và học, dù là bậc thấp hay cao, vẫn là vừa dạy kiến thức vừa dạy để tư duy. Càng bậc cao, cả hai yêu cầu ấy càng cao. Khi ra nghề, kết hợp được cả hai càng quý. Nhưng nếu chỉ dùng mỗi khả năng tư duy thì cũng không thể vội quy kết là đào tạo thừa, sai nghề hay lệch nghề.
– Ở trong gia đình, nếu con của giáo sư mong muốn đi theo ngành nghiên cứu toán nhưng giáo sư biết rằng ngành đó không thể kiếm được nhiều tiền thì ông có định hướng lại cho con mình không?
Tôi không cho là ngành Toán không đủ nuôi sống. Do vậy nếu con tôi theo ngành Toán tôi sẽ rất mừng. Cho nên không thể có điều giả định như anh nêu. Nhưng cũng như đồng nghiệp, tôi hoàn toàn tôn trọng lựa chọn của các cháu. Cháu đầu tôi đang học dự bị đại học, không rõ có chọn ngành Toán không, nhưng có lẽ khả năng không chọn là cao.
Một số đồng nghiệp tôi cũng có con đi học toán và nghiên cứu toán. Chúng tôi không định hướng cho các cháu chỉ nên đi toán hay không nên đi toán. Điều đó phụ thuộc sở thích, niềm đam mê của các cháu.
– Bản thân ông đã học được những kinh nghiệm gì từ chính cuộc sống?
Nhiều kinh nghiệm trên cuộc sống cho thấy rằng nên tôn trọng sở thích cũng như năng lực của con mình. Tôi biết khá nhiều ví dụ đáng lý nên cho con theo nghiên cứu khoa học cơ bản sẽ tốt nhưng phụ huynh lại định hướng cho con đi học kinh tế. Sau đó trong quá trình học có cháu chán, bỏ học, nảy sinh tiêu cực.
Ngược lại có những em có thiên hướng về kinh doanh, nhưng lại bị ép đi học nghiên cứu (nhất là thời chúng tôi, khi khoa học cơ bản còn được xem là ông hoàng). Khi học bị thua kém bạn bè, để rồi cuộc sống lận đận. Vì vậy học là một chuyện, chọn ngành nghề là chuyện khác. Phụ huynh nên tôn trọng các cháu.
Tôi xin nói kĩ hơn một chút:
Ngày nay, nhiều người ta chỉ nhìn thấy mặt tốt của việc làm ra nhiều tiền. Họ không nhìn thấy mặt trái của vấn đề. Làm ra nhiều tiền cũng phải chịu nhiều đau khổ và rủi ro. Hôm nay anh có thể làm được hàng tỷ đồng, nhưng khi kinh tế khó khăn anh có thể phá sản hay nợ hàng tỷ đồng. Tình cảnh đó không xảy ra với một ông giáo sư. Ngoài niềm vui say mê khám phá, ông ta có cuộc sống ổn định (ấy là tôi nói ở nước ngoài).
Thậm chí, ngay trong số những người làm ra nhiều tiền, không phải ai cũng nghĩ để tiêu xài xa xỉ. Có người tiết kiệm, để dành phần lớn số tiền làm ra cống hiến cho xã hội. Đó cũng là một loại đam mê đấy thôi.
+ + + + +

Thi học sinh giỏi là ‘luyện gà chọi’?

Về thi học sinh giỏi Toán
– Trong việc luyện thi học sinh giỏi hiện nay, gần đây có nhiều ý kiến cho rằng thi học sinh giỏi chỉ là luyện “gà chọi”. Có vẻ như cả nước đổ xô chỉ để có 6 em đi thi Toán quốc tế? Ông có chia sẻ gì về điều này?
 
GS.TSKH Lê Tuấn Hoa: Việc thi học sinh giỏi quan trọng nhất không phải chuyện đạt giải. Nếu nhận thức được điều này đi thi anh sẽ hứng thú, không áp lực với học sinh, phụ huynh và nhà trường. Chính kỳ thi học sinh giỏi là nơi người ta tranh tài, vượt khó. Tập luyện vượt khó, đấy là điều quý giá trong cuộc đời.
Cuộc đời con người khi còn trẻ lúc nào cũng trơn tru thì không bao giờ tốt. Thi học sinh giỏi, khi gặp bài khó anh được 0 điểm. Thoạt nhìn thấy đó là một thất bại thảm hại. Nhưng ít nhất có một cái lợi: nó giúp anh nhận ra rằng mình chưa đủ giỏi, còn phải học, phải cố gắng thêm! Nhờ tôi luyện như vậy mà sau này bước vào cuộc đời, ta sẽ đủ độ lì và bản lĩnh để đương đầu với khó khăn.
Đối với người tổ chức, mục đích chính nhất là tìm ra những người giỏi. Nếu quan niệm như vậy người ta sẽ trân trọng từng giải thưởng, từ học sinh giỏi cấp trường, cấp huyện cũng quý, cấp tỉnh càng quý, cấp nhà nước càng quý nữa.
Theo quan điểm như vậy không nhất thiết phải trao nhiều giải. Trao ít giải, học sinh đi thi không được giải thấy bình thường, vì tuyệt đại đa số không có giải. Ngược lại, trao nhiều giải, học sinh được giải cũng thấy vui vừa, còn nếu không được giải thì cảm thấy buồn và thất vọng vì bị xem là kém cỏi. Thành ra dẫn đến bị áp lực.
Thời mình cả tỉnh Thanh Hóa nhiều năm đi thi toàn miền Bắc hầu như không có giải. Do vậy, nếu năm nào có em dính giải là cả tỉnh biết, rồi lưu truyền hàng ba bốn chục năm sau (dĩ nhiên trong số cùng lứa tuổi).
– Hiện nay nhiều ý kiến cho rằng số lượng 50% học sinh đạt giải trong 1 kỳ thi là quá nhiều. Ông nghĩ sao về điều này?
Đây là vấn đề quan điểm, đúng sai tùy từng người. Nếu các em này thực sự giỏi thì trao 50 – 70% cũng đúng, nhưng trao với mục đích gì thì là câu chuyện khác.
Như trên tôi đã nói, quan điểm của cá nhân tôi là trao vừa phải, ít thôi để đỡ bớt áp lực hơn.
Tôi biết, từ khá lâu, việc trao giải của các kì thi học sinh giỏi ở nước ta là học theo cách trao giải của Kì thi Toán quốc tế. Theo đó 50% số em dự thi đạt giải.
Trên bình diện quốc tế, điều đó rất hợp lí. Bởi mỗi đội tuyển của một nước chỉ có tối đa 6 em. Về lí thuyết, đó là các em rất giỏi và vào loại tinh túy nhất rồi nên việc trao giải cho các em rất xứng đáng.
Áp dụng sơ đồ đó vào các kì thi trong nước lại là vấn đề khác, có thể bàn đi bàn lại dưới nhiều góc độ. Quan điểm của tôi đã nêu rõ ở trên nên tôi không muốn nhắc lại nữa.
Còn dù trao ít hay nhiều, thì tất cả các em đạt giải quốc gia được tuyển thẳng vào đại học là hoàn toàn xứng đáng.
– Được biết, năm 1974 giáo sư cũng từng trong đội tuyển ôn luyện đi thi học sinh giỏi quốc tế nhưng cuối cùng lại không được lọt vào vòng cuối cùng. Ngày đó, GS có nuối tiếc không?
Tôi trong đội dự tuyển đi ôn nhưng cuối cùng không được thi, đó là chuyện bình thường (9 người dự tuyển lấy 5). Tất nhiên, ngày đó tôi cũng tiếc nhưng không cay cú. Làm gì cũng được, nhưng phải biết mình biết ta. Tôi thấy mình còn thua các bạn, nên phải cố gắng phấn đấu để bằng. Tôi nghĩ mình còn nhiều cơ hội chứ không phải thế là mình suốt đời thua kém các bạn.
– Giáo sư có thể chia sẻ thêm về quãng thời gian ngày đấy?
Dù không được thi Toán quốc tế, nhưng nhờ dự đội dự tuyển, tôi biết được một số câu chuyện “cơ mật”. Đó là sự băn khoăn của cấp lãnh đạo cao nhất trong giáo dục và đào tạo (các cố bộ trưởng Tạ Quang Bửu và Nguyễn Văn Huyên) về khả năng Toán học của học sinh Việt Nam cũng như chất lượng và trình độ đào tạo Toán của nước ta so với thế giới. Trước khi thi, cố bộ trưởng Tạ Quang Bửu nghĩ rằng ta còn thua xa thế giới, khi không ít lần ông nói với đoàn học sinh: thi không được giải là bình thường, còn nếu chỉ được một giải cũng đã là thắng to.
Đến lúc thi, các bạn tôi thắng to: 4 trong 5 được giải, có cả vàng lẫn bạc. Bạn cuối chỉ thiếu 1 điểm là được đồng. Từ đất Thanh Hóa, nghe qua đài tiếng nói Việt Nam, tôi vừa vui, vừa sững sờ. Khoảng hai tuần sau đó, tôi không nhớ bằng cách nào đó tôi có đề thi, tự mình ngồi làm thử, thì thấy nếu được đi thi, cũng có cơ may được giải, nhưng chắc chắn không thể là vàng!!!
Nhưng tôi đồ rằng cái lớn nhất, cái mừng nhất của các vị bộ trưởng chính là tìm được câu trả lời: việc giảng dạy Toán của nước mình, nếu không nói đến đại trà thì ít nhất ở các lớp chuyên toán, không thua kém đối với thế giới.
Đây là một điều khẳng định rất tốt. Khẳng định sự tự tin và khẳng định chương trình dạy toán ngày xưa cứ thế mà tiếp tục. Bây giờ, sau khi kinh qua quản lí nhiều năm, tôi càng cho rằng đó là một kết luận có ý nghĩa chiến lược rất cao. Rất ít người nói được cái ý nghĩa này.
– Xin trân trọng cảm ơn ông!
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: