Muôn thuở “Vợ chồng A Phủ”

Tháng 6 4, 2013

Phạm Thị Hoài

Kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông ở Việt Nam vừa kết thúc. Đề thi môn Ngữ văn, phần chính, yêu cầu thí sinh “phân tích din biến tâm lí và hành đng ca nhân vt M qua cnh đêm mùa xuân M mun đi chơi và b trói trong tác phm ‘V chng A Ph’ ca Tô Hoài“. Năm ngoái, đề thi tuyển sinh vào đại học môn Ngữ văn khối D đặt câu hỏi: “Vic M nhìn thy ‘dòng nước mt lp lánh bò xung hai hõm má đã đen xám li’ ca A Ph din ra trong hoàn cnh nào? S vic y có ý nghĩa gì đi vi tâm lí ca nhân vt M?

Việc “Vợ chồng A Phủ”, một tác phẩm thuộc dòng văn học “Hiện thực Đoán trước”, trung bình về mọi phương diện dù đã được chiếu cố mầu sắc miền ngược [i], thường xuyên được chọn làm cửa ải để học sinh Việt Nam vượt qua bậc tú tài và thậm chí để vào đại học cũng đáng chú ý như các yêu cầu đặt ra cho thí sinh. Muôn thuở là phân tích giá trị (nhân đạo, hiện thực) của tác phẩm, phân tích nhân vật Mị (hành động, tâm lí), phân tích Mị trong đêm tình mùa xuân, phân tích Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ, phân tích Mị mặt buồn rười rượi, phân tích Mị sức sống tiềm tàng, phân tích hình tượng nắm lá ngón Mị ném xuống đất, phân tích hình tượng tiếng sáo Mị nghe, so sánh hình tượng Mị bị trói đứng và A Phủ bị trói đứng…

Khổ quá, đó là một tác phẩm hoàn toàn đơn giản, bố cục phẳng, tình tiết dễ hiểu, các nhân vật được đặt đúng những chỗ đã đánh dấu, tốc độ kể thong thả, ngôn ngữ không có gì đặc biệt, thủ pháp không có gì đặc sắc. Có gì mà phân tích ở đó? Đào sâu một tác phẩm như thế chỉ chọc rách mặt giấy, vì vậy tiêu chuẩn khả dĩ duy nhất là thuộc bài và phát biểu cảm tưởng trong khuôn khổ và theo định hướng. Thuộc bài ở đây là thuộc làu làu. Chẳng hạn thí sinh phải nhớ đúng tình tiết Mị đã nhìn thấy A Phủ khóc trong hoàn cảnh nào. Không phải khóc chung chung. Phải là khóc chính xác với “dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã đen xám lại”.

Vì thế mà có quy định “thí sinh không được sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm.”

*

Sau đây là yêu cầu đặt ra với thí sinh Đức trong một đề thi tốt nghiệp trung học, môn Ngữ văn:

Trích đon Vladimir Nabokov nói v tác phm “Hóa thân” ca Franz Kafka:

Bây giờ trước khi nói về “Hóa thân”, tôi muốn xác định rõ là tôi phản đối hai quan điểm mà một số người đại diện. Tôi hoàn toàn bác bỏ khẳng định của Max Brod rằng chỉ có thể dùng phạm trù thiêng liêng (nhưng không phải sự thiêng liêng của văn học) để nhìn nhận sự nghiệp của Kafka. Kafka trước hết là một nghệ sĩ, nhưng dù cho rằng nghệ sĩ nào cũng có chút thiêng liêng (một nhận định khá trùng với quan niệm của tôi) thì tôi vẫn không tin rằng có thể đọc ra tính tôn giáo trong thiên tài của Kafka. Tiếp theo, tôi bác bỏ quan điểm của phái Freud. Thí dụ, những người dùng học thuyết của Freud để diễn giải Kafka (như Charles Neider trong “The Frozen Sea” [1948]) cho rằng “Hóa thân” dựa trên mặc cảm Oedipus của Kafka và cảm giác cả đời có lỗi với người cha. Phái này còn lí giải rằng trong ngôn ngữ biểu tượng thần bí, trẻ con xuất hiện dưới hình hài của sâu bọ – tôi hoài nghi điều đó -, và biểu tượng con bọ trong “Hóa thân” của Kafka là để diễn tả nhân vật người con, theo tinh thần của học thuyết Freud. Cũng theo phái này, biểu tượng con bọ đó khắc họa chính xác cảm giác thua kém và vô giá trị của người con đối với người cha. Tôi bác bỏ cái mớ vớ vẩn này, vì điều tôi quan tâm là con bọ của Kafka chứ không phải mấy con dế trong đầu các nhà diễn giải đó. Kafka giữ thái độ hết sức phê phán với học thuyết Freud, vì ông thấy các lí thuyết của Freud hiện lên như những hình ảnh mơ hồ, sơ lược, không thấu được những góc độ riêng biệt, và điều quan trọng hơn là không thấu được bản chất của vấn đề. Ông coi phân tâm học (xin trích) là một “nhầm lẫn bất lực”. Đó là lí do tiếp theo khiến tôi bác bỏ cách nhìn theo phái Freud và muốn tập trung vào khoảnh khắc thao tác nghệ thuật. (…)

Nhân vật chính của “Hóa thân” là Gregor Samsa, con trai một gia đình trung lưu ở Praha. Các thành viên gia đình này là những con người tẻ nhạt, đầu óc tầm thường, chỉ coi trọng những giá trị vật chất, như những nhân vật trong tác phẩm của Flaubert. Năm năm trước, người cha bị thiệt hại mất gần hết gia sản nên Gregor phải làm thuê cho một chủ nợ của cha, nghề rao mẫu hàng vải. Người cha hết việc, cô em gái Grete chưa đủ tuổi đi làm và bà mẹ mắc chứng hen phế quản, nên chàng trai trẻ Gregor là người nuôi cả gia đình. Chàng còn tìm được cho gia đình một căn hộ để sinh sống: trong một chung cư cho thuê, chính xác là tại phố Charlottenstraße, và căn hộ ấy được chia nhỏ, như sau này Gregor cũng bị chia nhỏ. Đó là năm 1912, câu chuyện diễn ra tại Praha, ở Châu Âu xưa. Lương giúp việc rẻ, nên gia đình Samsa có một cô người ở mười sáu tuổi (ít hơn Grete một tuổi) tên Anna và một bà nấu bếp. Gregor thường rong ruổi đi công việc, nhưng đêm mà sau đó câu chuyện bắt đầu thì chàng ngủ ở nhà, giữa hai chuyến công cán. Và đến đây, sự kinh hoàng xảy ra. (…)

Ta hãy xem xét kĩ hơn vụ biến dạng vừa xảy ra đó. Tuy sự thay đổi có khủng khiếp và đáng bàng hoàng thật, nhưng không hề lạ lùng như thoạt tiên ta tưởng. Một nhà phê bình có đầu óc (Paul L. Landsberg trong “The Kafka Problem” [1946], Angel Flores chủ biên) đã nhận định: “Ngủ trong một môi trường lạ, lúc tỉnh dậy ta hay bị một thoáng bàng hoàng, một cảm giác hoang đường bất chợt, và một người làm nghề đi rao mẫu hàng thì chắc phải thường xuyên gặp cảnh này, vì không thể có sự ổn định nào trong hoàn cảnh sống đó.” Cảm giác về hiện thực phụ thuộc vào sự ổn định, vào sự bền vững. Rốt cuộc thì tỉnh dậy thấy mình là Napoléon, là George Washington hay là một con bọ cũng không có gì khác nhau lắm. (Tôi từng quen một người lúc tỉnh dậy thấy mình là hoàng đế Brazil.) Mặt khác, sự cô đơn đi cùng với đặc thù lạ lùng của cái mà chúng ta gọi là hiện thực là điều xưa nay vẫn đặc trưng cho người nghệ sĩ, cho thiên tài, (…). Gia đình Samsa vây quanh con bọ hoang đường kia chẳng qua chỉ là biểu tượng của sự tầm thường vây quanh thiên tài.

Yêu cu thí sinh:

1. Hãy tóm tắt và giải thích cách diễn giải của Nabokov

2. Bằng kiến thức của mình về các tác phẩm của Kafka và các cách diễn giải chúng, hãy bình luận và đánh giá quan điểm của Nabokov.

Thí sinh được phép sử dụng tài liệu tùy ý trong phòng thi.

*

So sánh trên đây cho thấy học sinh Đức không cần phải thuộc bài (không có bài nào để thuộc). Nhưng cần: Thứ nhất, khả năng đọc hiểu đối với một văn bản khá phức tạp cả về nội dung lẫn hình thức biểu đạt (đoạn tiểu luận của Nabokov); thứ hai, kiến thức đủ rộng (các tác phẩm của Kafka chứ không chỉ 5000 chữ như đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” trong sách Ngữ văn 12); và thứ ba, khả năng cọ sát quan điểm của riêng mình (với quan điểm của Nabokov) về Kafka.

Môn Ngữ văn ở bậc trung học phổ thông không có gì kì bí, vô tận hay phức tạp hơn các môn khác. Trong nhà trường ở Việt Nam, nó thất bại không phải vì quá khó, quá nặng, mà vì quá nhẹ và nông, với muôn thuở “Vợ chồng A Phủ”.

© 2013 pro&contra

[i]  Có lẽ tôi không ưa “Vợ chồng A Phủ” cũng vì trong phần lớn các tác phẩm có mầu sắc folklore miền ngược, viết từ hình dung của người miền xuôi, các nhân vật đều được gán cho những cách nghĩ, cách nói, đặc biệt là cách xưng hô, có phần ngồ ngộ, ngu ngơ, sơ đẳng, ít nhiều bán khai. Và người đọc, tất nhiên cũng là người miền xuôi, tự động thấy mình ở một vị thế khác.

Link:   http://www.procontra.asia/?p=2539

http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/124143/muon-thuo–vo-chong-a-phu-.html

+ + + + +

Xem thêm:

Không cho điểm bài Văn có suy nghĩ tiêu cực về Nam (VNN)

Không cho điểm bài văn có suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực (DT)

Sự áp đặt? (SGGP) trong hướng dẫn cách chấm môn Văn kỳ thi tốt nghiệp THPT, cơ quan chủ quản nêu rõ quan điểm không cho điểm đối với những bài văn được cho là có “suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực”. Vậy thế nào là suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực? Phải chăng là lối nghĩ đi ngược lại quan điểm của những người soạn đáp án, những điều mà các em buộc phải làm theo? Đó rõ ràng là những sự áp đặt thiếu công bằng. Trong khi chúng ta đang ra sức cổ vũ cho một nền giáo dục dân chủ, đảm bảo tính công bằng thì dường như đâu đó vẫn còn những quy định đi ngược lại mục tiêu chung…

Thi tốt nghiệp THPT 2013: Đề mở, không có câu trả lời đóng (PNTP)

Đề thi văn và chuyện hi sinh của Nam: cần trang bị kỹ năng sống (TT)

Giải đề Văn sáng tạo bằng thơ, thí sinh được bao nhiêu điểm? (LĐ)

Đề văn: Một dấu mốc thay đổi (GD&TĐ)

Sẽ hiếm bài văn suy nghĩ lệch lạc về Nam? (VNN)

Đề mở, người chấm cũng phải… mở (TN)

Không để thí sinh thiệt thòi (ANTĐ)

Văn học nhà trường còn khó khăn và phức tạp (Tin tức)

Tính xã hội, tính khoa học trong đề thi và đáp án môn Ngữ văn (DT)

Đề Văn mở, đáp án mở đến đâu? (GD&TĐ)

Tranh cãi quanh chấm thi môn Văn (Giadinh.net)

Tranh cãi với tiêu chí chấm văn (DV)

Tiêu chí chấm văn: Không chấm “lệch lạc, tiêu cực” (DV)

Hướng dẫn mơ hồ, rất khó chấm thi (DV)

Đề thi mở gợi những không gian mở (ĐĐK)

“Đừng để chúng em nói những lời sáo rỗng” (DV)

“Hãy nhân rộng những người dũng cảm” (DT)

Đáp án cho đề Văn mở: Người chấm bài và thí sinh băn khoăn (HQ)

Tranh luận về Hướng dẫn chấm môn Văn của Bộ Giáo dục-Đào tạo (SGGP)

Lo mất điểm vì “suy nghĩ lệch lạc” (NLĐ)

“Xin đừng suy diễn về một đề Văn quá hay như thế” (GD&TĐ)

Một đề thi làm rơi nước mắt (DV)

‘Đề mở’ nhưng ‘đáp án đóng’?! (PT)

Câu hỏi mở đề thi Ngữ Văn đã có điểm tuyệt đối (DT)

Có nhất thiết phải chi tiết tới cả khái niệm “tiêu cực”, “lệch lạc”? (GD&TĐ)

Đề thi và đáp án môn Văn: Đôi điều bàn thêm;

Chúng ta thường vẫn dạy học sinh trược một vấn đề diễn ra trong cuộc sống, khi bình luận thường có 3 luồng ý kiến: một là đúng hoàn toàn, hai là vừa đúng vừa sai, ba là sai hoàn toàn. Ở câu 2 này cũng có 3 luồng ý kiến:

1. Ca ngợi lòng dũng cảm của em Nam (đa số)

2. Vừa ca ngợi vừa phê phán về hành động đó (số ít) với lý do: Nếu Nam đã thấy đuối sức quá rồi thì nên nghỉ mà hô hào xem có ai gần đó tới cứu giúp. Hoặc đành chấp nhận cứu được 3 em thôi. Cứu được em thứ 4 thì mình đuối sức, bị chết, để lại nỗi đau buồn cho gia đình, bạn bè, thầy cô… Đó là một sự trả giá đắt.

3. Phê phán hành động của Nam dại dột, không lượng sức mình để dẫn đến cái chết (số này rất ít). Với lý do: Nếu cứ học tập Nam mà mình bơi kém, hoặc không biết bơi, cứ lao xuống sông cứu bạn để rồi không cứu được mà dẫn đến cái chết thì rất không nên.

Đề Văn có tác dụng giáo dục hết sức thiết thực và ý nghĩa (GD&TĐ)

“Đề thi văn tốt nghiệp THPT mang tính thời sự” (VTV)

Sóc Trăng cũng có bài Văn đạt điểm tuyệt đối câu nghị luận (DT)

Gần triệu bài làm đã viết tên em (DT)

Giải tỏa băn khoăn về cách chấm điểm câu hỏi mở môn ngữ văn (HNM)

Đề mở – Chấm với tấm lòng mở (GD&TĐ).

Đánh động vào lối sống vô cảm (TT)

Quan trọng là thấy giá trị định hướng mà học sinh cảm thụ được qua bài viết (GD&TĐ)

Dồn sức cho công tác chấm thi chính xác, đúng tiến độ (GD&TĐ)

Không nên tổ chức thi hoành tráng (ĐĐK)  Một kỳ thi cần phải loại bỏ (LĐ) Xét tốt nghiệp – tại sao không? (LĐ)

Đề thi và đáp án thi tốt nghiệp môn Ngữ văn: Tiến bộ đáng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Chu Mộng Long) Chỉ tiếc là, năm ấy đề mở nhưng đáp án thì đóng, kín mít đến từng ý nhỏ với điểm 0,25. Đề mở nhưng đáp án đóng đến con muỗi chui không lọt thì bộ máy kiểm duyệt của vua Phổ hay Đức quốc xã cũng vái làm sư phụ!

Năm nay, nội dung đề chẳng phải là hay, nhưng mở thật sự. Mà đâu cần cứ diễn đạt cho văn vẻ để gọi là hay, cứ thật chân phương, nhưng đáp án cho phép học sinh tự do sáng tạo, miễn sao nằm trong những quy phạm cần thiết.

Nhưng Bộ cũng phải lưu ý: Đề, đáp án mở, nhưng người chấm máy móc, theo cách cứ có đàn bà và có hồng hồng là đạt điểm tối đa như cái vụ chấm thi năm ngoái, thì sự tiến bộ trong cải cách thi cử và đề đóm của Bộ có cũng bằng thừa!

Thương cho “Vợ chồng A Phủ”? (TP)

Những “hạt sạn” trong đề thi và đáp án môn văn tốt nghiệp THPT

Đề thi đã thực sự hay và và “mở”?
Về câu nghị luận xã hội của đề thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn năm nay (yêu cầu thí sinh bày tỏ suy nghĩ về hành động dũng cảm cứu người của học sinh Nguyễn Văn Nam), đã có nhiều ý kiến khen nức nở, rằng đây là một đề hay, có tính thời sự, có tính nhân văn, tính giáo dục cao, là đề “mở”, có ý nghĩa động viên tinh thần gia đình học sinh Nguyễn Văn Nam, thậm chí được khen là “quá hay”…
Đề thi năm nay có tính chất thời sự là điều dễ thấy, vì sự kiện diễn ra ngay sát thời gian tổ chức kì thi, đang được dư luận quan tâm. Nhưng cho rằng đây là một đề mở và hay thì chưa chính xác.
Đề thi chỉ “mở” về mặt hình thức, còn về bản chất vẫn là khép kín, trói buộc tư duy thí sinh. Ngay trong phần yêu cầu nghị luận đã có định hướng: “Viết một bài văn ngắn bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về hành động dũng cảm cứu người của học sinh Nguyễn Văn Nam…”. Về nguyên tắc, đề “mở” thì không định hướng, gợi ý như vậy. Tính chất của hiện tượng cuộc sống ra sao hãy để thí sinh tự đánh giá.
Nói đề thi tính chất “mở”, nghĩa là thí sinh có thể bộc lộ những suy nghĩ, đánh giá riêng của bản thân về một hiện tượng. Nhưng thực chất, đề thi nói trên không tạo cơ hội cho thí sinh bộc lộ những suy nghĩ riêng, độc đáo. Bởi vì hành động của Nguyễn Văn Nam chỉ có thể đánh giá ở phương diện hoàn toàn tích cực, đơn nhất, thống nhất về mặt nhận thức, tình cảm; không phải là sự kiện có thể nhìn ở nhiều góc độ, có nhiều ý kiến khác nhau. Một đề nghị luận xã hội hay là phải nêu ra được sự kiện, hiện tượng “có vấn đề”, có khả năng gợi nên nhiều nhận thức, tình cảm khác nhau, thậm chí đối lập.
Nhận xét đề trên là “quá hay” vì có tính nhân văn, tính giáo dục, vậy xin hỏi các câu khác về cuộc đời, số phận người mẹ (truyện ngắn “Thuốc” của Lỗ Tấn), người phụ nữ (Mị trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài), cả xúc của nhà thơ về đất nước  (đoạn trích “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm) trong cùng đề thi là kém hơn về tính nhân văn, tính giáo dục hay tính gợi cảm? Phải chăng vì sự kiện mới diễn ra nên dễ gây xúc động đối với thí sinh hơn? Nói như vậy để thấy sự cảm tính trong nhận xét về đề thi của một số người.
Đáp án thiếu logic và cái bẫy “suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực”
Trước băn khoăn của nhiều người về phương án chấm thi, tại cuộc họp báo ngày 4/6/2013, ông Nguyễn Vinh Hiển – Thứ trưởng Bộ GD-ĐT khẳng định: Đề mở nên có nhiều cách chấm khác nhau, Bộ không áp đặt cho lớp trẻ một đáp án cố định. Ông Hiển cũng cho biết xu hướng ra đề mở tiếp tục được triển khai cho các năm tiếp theo.
Ngoài yêu cầu nghị luận đã định hướng, đáp án (hướng dẫn chấm bài) của Bộ GD – ĐT thể hiện rõ xu hướng đồng nhất, đơn nhất và đơn giản trong đánh giá, quanh đi quẩn lại, suy nghĩ của thí sinh cũng không thể “chạy đi đâu cho thoát” ngoài mấy từ ngữ: “dũng cảm”, “tấm gương sáng”, “nhân ái”, “nghĩa cử cao đẹp”, “phi thường”, “cảm phục”…Những suy nghĩ như vậy đương nhiên là đúng, nhưng sáo mòn, chẳng có gì mới mẻ, sáng tạo, không thể có cơ hội để thí sinh thể hiện nét riêng, độc đáo trong tư duy, quan điểm.
Một nghịch lí là Bộ GD- ĐT có vẻ “thoáng” khi lưu ý: “Nếu thí sinh có những suy nghĩ, kiến giải riêng mà hợp lí thì vẫn được chấp nhận”, nhưng liền vội “rào” lại ngay: “Không cho điểm những bài làm có những suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực”. Sao lạ vậy?. 
Theo nguyên tắc chấm thi, giám khảo phải tuân thủ hướng dẫn chấm của Bộ, nếu thí sinh có ý khác với đáp án, thì giám khảo phải trao đổi với Chủ tịch hội đồng chấm thi, được Hội đồng chấm thi thống nhất thì mới được phép cho điểm, một số trường hợp cần ý kiến của Bộ. Với hiện tượng hi sinh anh dũng của Nguyễn Văn Nam, ngoài mấy ý của đáp án, liệu thí sinh còn nghĩ được điều gì khác mà hợp lí, nếu không muốn rơi vào cái bẫy “suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực”? Thế nào là “lệch lạc, tiêu cực”, ngay cả Bộ GD – ĐT cũng không xác định rõ, giám khảo làm sao dám khẳng định? Thế là lại phải trao đổi, họp hành, tranh cãi. Đúng ra Bộ phải có hướng dẫn cụ thể. Trong tình huống còn nhiều vấn đề chưa thống nhất thì không nên sử dụng câu này. Bộ GD-ĐT đã vô hình trung làm khó cho giám khảo và các Hội đồng chấm thi.
Với hiện tượng mà đề bài yêu cầu bình luận, thực chất chỉ cần gói gọn trong vài dòng là đủ. Nhưng đã là câu 3 điểm, thì buộc đáp án phải phân chia thành nhiều ý cho đủ với cơ cấu các điểm số lẻ (0,5 điểm), tương ứng với 6 ý (6 gạch đầu dòng). Điều này, ngay bản thân người ra đề cũng lúng túng và dẫn tới hiện tượng đáp án thiếu logic và trùng lặp, thậm chí có những yêu cầu thừa. Ví dụ ý “Giới thiệu hiện tượng Nguyễn Văn Nam”, thí sinh chỉ cần chép lại đề là đã có 0,5 điểm. Hiện tượng cuộc sống đề bài đã nêu ra đầy đủ, nay nêu lại nữa để làm gì?
Một ý trong đáp án theo chúng tôi là rất mâu thuẫn: “Việc làm của Nguyễn Văn Nam là một nghĩa cử cao đẹp, dũng cảm phi thường, song không phải là cá biệt. Hành động này còn giàu ý nghĩa tích cực trong bối cảnh cuộc sống hiện tại” (?!). Đã “phi thường” (khác thường, đáng khâm phục) thì đương nhiên không thể “cá biệt” (theo nghĩa riêng lẻ, tiêu cực). Chúng tôi quả không hiểu Bộ GD- ĐT muốn diễn đạt ý/thông điệp gì trong câu vừa nêu! Rồi “bối cảnh cuộc sống hiện tại” này là thế nào, với hàm ý gì? Hành động của Nguyễn Văn Nam có ý nghĩa tích cực ở bất cứ thời/bối cảnh cuộc sống nào, chứ không chỉ riêng cho thời điểm hiện tại.
Các yêu cầu của đáp án đối với thí sinh “học tập tấm gương Nguyễn Văn Nam”, và “phê phán lối sống ích kỉ, vô cảm” theo chúng tôi là còn nặng về hình thức, có tính chất cầu toàn, “tạo điều kiện” cho thí sinh nói dối. Không hiểu đây là đáp án môn Ngữ văn hay là môn Giáo dục công dân (đạo đức)? Không hiểu Bộ GD – ĐT muốn để thí sinh bộc lộ tình cảm chân thực hay là để các em hô khẩu hiệu suông? Là người đã từng dạy văn, chấm văn nhiều năm, chúng tôi có thể khẳng định hầu hết các thí sinh viết lách dạng “phê phán” và “học tập” để  lấy điểm theo yêu cầu của đáp án đều là nói dối. Điều này đã được thể hiện trong thực tế: dù chúng ta đã và đang cố dạy văn lâm li, sướt mướt, “lên bổng xuống trầm” nhưng tình trạng vô cảm trong xã hội ngày càng gia tăng; thậm chí xẩy ra ngay trong chính đội ngũ giáo viên dạy văn.
Một nghịch lí là dù có nhiều câu thừa, ý trùng lặp như đã nêu, nhưng đáp án của Bộ GD – ĐT lại thiếu một ý quan trọng, đó là tấm gương hi sinh anh dũng của học sinh Nguyễn Văn Nam là một sự kiện bi tráng, đã gây xúc động sâu sắc, lay động hàng triệu trái tim, có sức lan toả mạnh mẽ, gợi nên những cảm xúc/tình cảm cao thượng trong cộng đồng.
Chúng tôi cho rằng vì chạy theo sự kiện thời sự (sự việc diễn ra ngay trước hoặc trong thời gian ra đề), nên đề thi nghị luận xã hội năm nay được hình thành một cách gấp gáp, chưa có sự ấp ủ, chuẩn bị kĩ lưỡng. Thiết nghĩ, Bộ GD – ĐT cần rút kinh nghiệm về khâu chuẩn bị đề thi, đáp án, lựa chọn thành phần ra đề, phản biện đề thi.
Còn về 3 câu thuộc phần nghị luận văn học thì rơi vào tình trạng “muôn năm cũ”, chủ yếu yêu cầu thuộc lòng, đã có sẵn trong các bộ đề, phao thi, là sự cổ vũ cho xu thế dạy học “đọc – chép”. Từ đó, có thể thấy đáp án cho câu hỏi bao giờ dạy học văn trong nhà trường phổ thông thoát khỏi căn bệnh hình thức, sáo mòn đang còn bỏ ngỏ.
 Trần Quang Đại
Link:   tamnhin.net

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: