Giải quyết chế độ cho giáo viên mầm non ở Ninh Bình: Một mình một chợ!

(LĐ) – Số 49 NHÓM PV – 12:30 PM, 05/03/2014

Quyết định số 60/2011 ngày 26.10.2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2011-2015 và thông tư liên tịch số 09/2013 hướng dẫn thực hiện QĐ số 60 nói trên đã tạo điều kiện cho hàng chục nghìn giáo viên mầm non (GVMN) cả nước thoát khỏi sự thiệt thòi. Tuy nhiên, ở Ninh Bình, chính sách này chỉ được thực hiện một phần, gần 4.000 GVMN của tỉnh vẫn phải chịu bất công và uất ức…

Bài 1: Bất chấp quyền lợi người lao độngTừ đi trước chính sách…Trong khi hàng chục nghìn GVMN trên cả nước vẫn đang phải làm việc với chế độ hợp đồng công việc, thì Ninh Bình là tỉnh đi đầu trong việc giải quyết chế độ cho đối tượng này. Ngày 27.7.2010, HĐND tỉnh đã ra Nghị quyết số 04 phê duyệt Đề án số 03 của UBND tỉnh về việc chuyển đổi các trường mầm non (MN) bán công thành trường MN công lập.Theo đó, 134 trường MN bán công sẽ được chuyển đổi sang loại hình trường MN công lập tự chủ một phần về tài chính. Sau khi chuyển đổi theo đề án trên, toàn tỉnh có 148 trường MN (bao gồm 14 trường công lập, 1 trường dân lập).Số CB, GV, NV đang công tác tại 148 trường thời điểm đó là 4.236 người. Theo phụ lục 05 của đề án, kinh phí hằng năm để tuyển dụng 620 GV, NV mầm non hợp đồng vào biên chế nhà nước là trên 23,2 tỉ đồng (căn cứ mức lương tối thiểu 730.000 đồng). Nguồn kinh phí được chi trả từ ngân sách địa phương.Đề án 03 của Ninh Bình thời điểm đó như một làn gió mới, tạo sự phấn khởi rất lớn cho GVMN.

… bất chấp quyền lợi người lao động…

Cô giáo Phạm Thị Thêu – Hiệu trưởng Trường Mầm non Tân Thành, TP.Ninh Bình – nói: “Đây là đề án mang tính tích cực, CB, GV rất phấn khởi vì bao nhiêu năm phải chịu thiệt thòi, cùng được đào tạo như GV tiểu học, THCS, nhưng khi đi làm chỉ mang thân phận hợp đồng, nay đã được vào biên chế như bao đồng nghiệp khác”.

Như vậy, ngay từ năm 2010, Ninh Bình đã không còn loại hình trường bán công, mà chỉ có trường công lập và số rất ít trường MN dân lập.

… đến bất chấp quyền lợi của giáo viên

Dù đã ghi rõ nguyên tắc để xây dựng và thực thi đề án là “đảm bảo tính công bằng đối với CB, GV, NV công tác trong các trường mầm non”; tuy nhiên, ngay từ đầu, đề án này đã ẩn chứa sự bất công khi căn cứ chi trả lương cho GV được tuyển dụng vào biên chế chỉ là bậc 1.

Theo đó, GV có trình độ trung cấp đều được tính bậc lương 1,86 mà không quan tâm tới việc GV đó đã có tới hàng chục năm công tác trong ngành, đã đóng BHXH bắt buộc nhiều năm qua. Người mới vào nghề cũng như người sắp sửa đến tuổi nghỉ hưu đều đánh đồng một bậc lương.

Cô Nguyễn Thị Xoa – nguyên GV Trường MN Yên Khánh, TP.Ninh Bình – là một ví dụ điển hình về sự thiệt thòi này. Cô Xoa bắt đầu dạy trẻ từ năm 1972, khi đất nước còn khó khăn, cô cùng đồng nghiệp đã lặn lội vào từng nhà dân vận động đưa trẻ đi học, rồi dựng lán, lập trường.

Thu nhập của cô cũng như bao đồng nghiệp khi đó được nhân dân trả bằng lúa khi đến vụ. Đến năm 1995, cô Xoa mới được ký hợp đồng và đóng BHXH. Năm 2012, cô Xoa được tuyển dụng vào biên chế theo Đề án 03.

Mức lương theo quyết định tuyển dụng là 1,86. Biên chế được 1 năm, năm 2013 cô nhận quyết định về hưu nhưng vẫn chưa được nhận lương hưu hằng tháng, bởi cô còn thiếu 1 năm đóng BHXH cho đủ 20 năm. Vậy là bây giờ cô không những không có lương, mà còn phải đóng mỗi năm 4 triệu đồng BHXH.

Sống neo đơn, nghỉ nghề dạy học, không có ruộng, thu nhập của cô bây giờ trông chờ vào mấy con lợn…. Năm 2015, khi đủ năm đóng BHXH thì mức lương hưu của cô Xoa cũng rất thấp, vì chỉ được hưởng 75% số lương hệ số 1,86. Vậy là hơn 30 năm cống hiến của cô chỉ được ghi nhận bằng… mức lương khởi điểm như GV vừa mới ra trường (?!).

Ngày 26.10.2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 60/2011, quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2011-2015, thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BGDĐT-BTC-BNV hướng dẫn thực hiện QĐ số 60 nói trên.

Theo đó, đối với các trường hợp ký hợp đồng lao động (HĐLĐ) có đóng BHXH bắt buộc trước ngày 15.12.2011 (ngày QĐ số 60/2011/QĐ-TTg có hiệu lực) thì được xếp lương theo nguyên tắc: “Kể từ ngày ký HĐLĐ có đóng BHXH bắt buộc đến thời điểm xét chuyển xếp lương theo thông tư 09 không có thay đổi về trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, thì sau khi trừ đi thời gian tập sự theo quy định được tính xếp vào bậc 1 theo chức danh nghề nghiệp của GVMN tương ứng; thời gian công tác sau đó (nếu có) được tính để xếp lên bậc lương cao hơn trong chức danh nghề nghiệp của GVMN”.

Theo quy định này thì những trường hợp như cô Xoa khi nhận quyết định về hưu sẽ có mức lương đã được nâng nhiều lần chứ không phải ở mức khởi điểm của trình độ trung cấp như cô được nhận.

QĐ số 60 của Thủ tướng có hiệu lực thi hành ngày 15.12.2011; chính sách hỗ trợ đối với GVMN quy định tại thông tư liên tịch số 09 được tính hưởng kể từ ngày 1.1.2012. Vậy nhưng, các cơ quan chức năng ở tỉnh Ninh Bình đã không áp dụng QĐ 60 của Thủ tướng Chính phủ và thông tư liên tịch số 09, mà vẫn thực hiện Đề án 03 của tỉnh. Hậu quả là tất cả GVMN không kể già trẻ, mới ra trường hay sắp về hưu đều chỉ có một mức lương khởi điểm, người có trình độ trung cấp là 1,86; cao đẳng, đại học là 2,34.

Việc vận dụng quy định theo kiểu “một mình một chợ”, không thực hiện theo QĐ của Thủ tướng Chính phủ khiến cho hàng nghìn người lao động trong lĩnh vực giáo dục mầm non tỉnh Ninh Bình – đặc biệt GV đã cống hiến lâu năm – chịu thiệt thòi mà không biết kêu ai.

Link: http://laodong.com.vn/xa-hoi/giai-quyet-che-do-cho-giao-vien-mam-non-o-ninh-binh-mot-minh-mot-cho-184114.bld

+ + + + +

Bài 2: Lờ văn bản cấp trên, cố né tránh sự thật!

(LĐ) – Số 50 NHÓM PHÓNG VIÊN – 8:7 AM, 06/03/2014

Phải mất rất nhiều tuần làm việc, chúng tôi mới có thể tiếp cận được đầy đủ sự thật, dù rằng sự thật ấy không có gì là bí mật. Từ giáo viên đến cán bộ quản lý đều biết việc thực thi sai chính sách đối với giáo viên mầm non nhưng người thì ngại nói vì… sợ bị liên lụy, người thì cố tình né tránh.

Biết sai nhưng không dám nói

Những giáo viên (GV) cung cấp thông tin cho chúng tôi về việc thực hiện sai chính sách với lời đề nghị: “Đừng đưa tên tôi lên báo nhé, mong mãi mới được vào biên chế, giờ họ cho ra thì chết”. Hầu hết giáo viên mầm non (GVMN) chúng tôi tiếp cận đều có tâm lý như vậy.

Họ mong các cấp có trách nhiệm của Ninh Bình thực thi đúng chính sách theo QĐ 60 của Thủ tướng và Thông tư (TT) liên bộ số 09, nhưng họ không dám trực tiếp lên tiếng.

Ngay cán bộ quản lý cũng biết việc cứ thực thi Đề án 03 của UBND tỉnh mà không căn cứ vào QĐ 60 và TT 09 là sai, nhưng không dám nói. Cô giáo Nguyễn Thị Tuyết – Hiệu trưởng Trường Mầm non Ninh Hòa (Hoa Lư) biết rất rõ nội dung TT 09, nhưng lại cất rất kỹ vào tủ.

“Đảng và Nhà nước đã quan tâm, thì theo tôi những GV cao tuổi cũng nên tính bậc lương cho họ cho đúng” – cô Tuyết nói. Tuy nhiên, cô cũng không quên nói thêm: “Thế nhưng được vào biên chế như thế này là quý lắm rồi”. Theo cô Tuyết, trường cô có 35 GV, trong đó có nhiều người đã vào nghề và đã đóng BHXH trên 10 năm.

Lờ văn bản cấp trên, cố né tránh sự thật!

Vậy nhưng khi vào biên chế thì cả trường đều hưởng lương hệ số bậc 1. “Nhiều người cũng thấy thiệt thòi nhưng cấp trên quan tâm đến đâu thì biết đến đó” – cô Tuyết nói.

Tương tự, cô giáo Phạm Thị Thanh Thủy – Phó Hiệu trưởng Trường Mầm non Ninh Khánh – TP.Ninh Bình – nói rằng, việc không thực hiện theo TT 09 làm thiệt thòi đến quyền lợi của nhiều GV, nhưng chính sách của tỉnh thế rồi, làm sao thay đổi được nữa.

Cô Nguyễn Thị Ninh – Trưởng phòng GDĐT TP.Ninh Bình – là người được đồng nghiệp đánh giá là thẳng thắn, “hay phản biện chính sách cấp trên”, nhưng cô cũng: “Vì Đề án 03 của tỉnh thực hiện trước nên khi có TT 09, nhiều người biết nhưng cũng sợ không dám nói ra, mà có nói cũng khó mà thay đổi được gì”.

Cố né tránh sự thật

Trả lời câu hỏi của chúng tôi “Ông có thấy bất công không khi những GV vào nghề lâu năm cũng được tính lương như mới vào nghề?”, ông Nguyễn Tiến Lực – Phụ trách tổ chức cán bộ, Phòng GDĐT huyện Hoa Lư – lúng túng không biết trả lời thế nào, rồi “cầu cứu” ông Nguyễn Văn Thiện – Phó Trưởng phòng.

Ông Thiện không trả lời thẳng vào câu hỏi mà giải thích vòng vo, chủ yếu là bao biện Đề án 03. Cuối cùng, khi chúng tôi quyết “truy” đến cùng, ông mới nói: “Chúng tôi chỉ biết thực hiện theo chỉ đạo, về lương, anh sang nội vụ mà hỏi”.

Tại Phòng Nội vụ thuộc UBND huyện Hoa Lư, ông Đặng Văn Trình – Trưởng phòng – nói liền một mạch gần 60 phút về tính ưu việt của Đề án 03, mà không trả lời vào nội dung chính là tại sao Ninh Bình không thực hiện theo quyết định của Thủ tướng, mà lại thực hiện theo đề án của tỉnh. Và ông Trình đã nổi cáu khi chúng tôi nhắc lại câu hỏi: “Nếu anh cứ hỏi thế thì tôi không làm việc nữa”.

Cũng vẫn thắc mắc trên, sáng 28.2, chúng tôi tìm đến cơ quan có chức năng tham mưu quan trọng trong việc thực thi các chính sách là Sở Nội vụ. Tại đây, cũng như nhiều cơ quan khác, chúng tôi liên tục bị cản trở. Dù phóng viên đã trình thẻ nhà báo, bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt – Chánh Văn phòng Sở Nội vụ – vẫn yêu cầu phóng viên phải có giấy giới thiệu.

Phải viện dẫn Luật Báo chí, bà Nguyệt mới cho phép ghi nội dung đề nghị làm việc với lãnh đạo sở rồi hẹn chiều làm việc. Chiều cùng ngày, bà Nguyệt thông báo ngắn gọn: “Lãnh đạo nói đã thực hiện chế độ cho GVMN theo Đề án 03, không có nội dung gì để làm việc nữa”. Không “đầu hàng”, chúng tôi gõ cửa phòng ông Ngô Văn Nguyên – Giám đốc sở. Vẫn là “yêu cầu giấy giới thiệu” và phải giải thích bằng Luật Báo chí, ông Nguyên mới đồng ý tiếp.

Quyết định của Thủ tướng không được thực thi

Chúng tôi hỏi: “Đề án 03 thực hiện từ 27.7.2010, nhưng đến 15.12.2011 thì QĐ số 60 của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực, vậy tại sao Sở Nội vụ không tham mưu cho lãnh đạo tỉnh thực hiện mà vẫn thực hiện Đề án 03 cho đến nay, phải chăng QĐ của Thủ tướng đã bị “bỏ quên”, để thực hiện quyết định của tỉnh về cùng một vấn đề?”.

Ông Ngô Văn Nguyên im lặng, rồi nói: “Chúng tôi thực hiện theo nghị quyết của HĐND tỉnh, các anh muốn biết sang hội đồng mà hỏi”. Tuy nhiên, khi chúng tôi đặt vấn đề trách nhiệm của Sở Nội vụ khi “để quên” QĐ của Thủ tướng, thì ông Nguyên một lần nữa lại im lặng.

Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, tại điểm 2, Điều 83 về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật thì “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”.

Trong khi đó, tại Điều 2 luật trên quy định “quyết định của Thủ tướng Chính phủ” xếp mức quan trọng thứ năm, trong khi “văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân” đứng thứ 12, xếp cuối cùng về tính pháp lý.

Sự im lặng của ông Giám đốc Sở Nội vụ Ninh Bình đã… “nói” rất rõ một điều: Các cơ quan chức năng ở Ninh Bình đã không thực hiện QĐ của Thủ tướng Chính phủ, tự “một mình một chính sách”, hậu quả là hàng nghìn GVMN phải chịu thiệt thòi quá lớn so với đồng nghiệp cả nước.

Link:  http://laodong.com.vn/xa-hoi/bai-2-lo-van-ban-cap-tren-co-ne-tranh-su-that-184235.bld

+ + + + +

Tham khảo thêm:

Đề án Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục Mầm non, giáo dục Phố thông, giáo dục Thường xuyên tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2013-2020, tầm nhìn đến năm 2030

Đề án số 04/ĐA-UBND ngày 28 tháng 6 năm 2013 của UBND tỉnh Ninh Bình

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: