Nguồn gốc Dịch lý trong bài đồng dao “Chi chi chành chành”

Từ sau khi bị phương Bắc dùng sức mạnh tước đoạt mất cái văn hóa âm dương, ngũ hành, dịch học của mình, người Lạc Việt quay quắc tìm mọi cách để lưu lại nguồn gốc văn hóa của mình. Tại sao như vậy? Tại vì khi phương Bắc đã cho rằng cái văn hóa đó là do họ làm ra thì không ai được dạy cái gì khác ngoài những gì mà họ tuyên truyền. Tất nhiên nếu như ai làm trái những gì họ nói thì kết quả sẽ vô cùng thãm khốc, chắc chắn là cái chết. Trong hoàn cảnh như vậy người Việt xưa kia đã vận dụng mọi phương thức ngôn ngữ để nhắc nhở người sau rằng văn hóa âm dương ấy là của người phương Nam làm ra hay nói khác là do người Lạc Việt làm ra. Trong các phương thức ấy có phương thức đồng dao. Bài đồng dao chi chi chành chành là một ví dụ.

Do được sáng tác từ rất lâu rồi lưu truyền trong nhân gian nên giờ đây có nhiều dị bản khác nhau, khác nhau không những về số câu mà cả về số từ cũng như í nghĩa của nó.

1-

Theo GS Nguyễn Lân Dũng thì bài ấy như sau :

Chi chi chành chành.

Cái đanh thổi lửa.

Con ngựa đứt cương – chết trương.

Ba vương lập đế -ngụ đế- Ba vông thượng đế.

Chấp chế thượng hạ- Cấp kế Thượng Hải.

Ba chạ đi tìm.

Ú tim bắt ập – Ú tim ù ập.

(7 câu)

Xem lời giải ở đây. http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/19377-gs-nguyen-lan-dung-giai-ma-bai-chi-chi-chanh-chanh/

Theo Giáo sư Lê Quang Châu thì bài ấy như sau:

2-

Chi chi chành chành.

Cái đanh thổi lửa.

Con ngựa chết trương.

Ba vương ngũ đế.

Chấp chế đi tìm.

Ú tim bắt được.

Ù à ù ập!.

Xem lời giải ở đây. http://www.baomoi.com/Tim-ngoi-mo-Kinh-Duong-Vuong-va-ly-giai-tro-dan-gianchi-chi-chanh-chanh/137/12678410.epi

 

Theo Nguyễn Vũ Tuấn Anh thì bài ấy có sáu câu. Dựa trên sáu câu này ông đã giải mã theo cách mà ông cho rằng nó là í nguyện của người xưa. Xem ở đây. http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/32172-minh-triet-viet-chi-chi-chanh-chanh/

3-

Chi chi, chành chành.

Cái đinh (đanh)thổi lửa.

Con ngựa chết trương.

Ba Vương Ngũ Đế.

Bắt dế đi tìm.

Ù à! Ù ập.

4 –

Các dị bản khác có 8 câu.

Chi chi chành chành

Cái đanh thổi lửa.

Con ngựa chết trương.

Tam vương, ngũ đế,

Chấp khế đi tìm.

Con chim làm tổ

Ù à ù ập.

Lại sập xuống đây.

5 –

Chi chi chành chành

Cái đanh thổi lửa.

Con ngựa chết trương.

Ba dương Thượng đế,

Bắt dế đi tìm.

Con chim làm tổ.

Ù à ù ập.

Lại (ngồi) sập xuống đây.

http://vietsciences.free.fr/vietnam/vanhoa/kinhdich/ch9III5cccc.htm

Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết trương
Ba vương thượng đế
Ngấp nghé đi tìm
Hú tim bắt ập.

Hoặc

Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết trương
Tam vương ngũ đế
Nhiếp chế thượng hạ
Ba quạ chín chu
Ú tim đi tìm
Tim tim lại chập.

(Theo Tục ngữ Ca dao Dân ca Hà Nội – NXB Hà Nội, 2010)

 

 

Như đã nói trên, do bài đồng dao này có từ ngàn xưa, trải qua năm tháng mỗi vùng thay đổi một chút nên các bản không giống nhau. Chính vì vậy ta không biết bản nào đúng bản nào sai, câu nào đúng câu nào sai, từ nào đúng từ nào sai. Trong trường hợp như thế này thì việc lấy một bản nào để giải cũng không thể hoàn hảo được. Chính vì vậy cần phải xem lại ngôn từ câu cú trong tất cả các bài, dựa vào cái thông điệp của bài đồng dao, từ đó đưa ra những câu, từ thích hợp mà bài đồng dao chuyên chở. Với suy nghĩ như vậy, tôi cho rằng thông điệp mà bài đồng dao chuyên chở là nói về Dịch lí, ở đây theo tôi là nguồn gốc Dịch học. Như thế các từ trong các câu nhất định phải liên quan đến dịch lí mà theo tôi bài ấy có thể vốn là như thế này.

 

Chi chi chành chành

Cái đanh thổi lửa.

Con ngựa mất cương.

Tam vương, ngũ đế,

Bát qué đi tìm.

Con chim làm tổ.

Ù à ù ập.

Lại (ngồi) sập xuống đây.

 

Chi chi chành chành = Nhánh nhánh cành cành.

Theo tôi chữ Chi 支 vốn xưa kia của người Việt đọc là Nhánh, về sau khi người phương Bắc chiếm lấy rồi đọc là Chi, người Việt sợ mất âm cũ nên thêm vào Nhánh để lưu lại âm xưa chứ về mặt ngữ âm nó chẳng có tiêu chí gì để Chi đi với nhánh cả. Chuyện này không phải là hiếm như:  Di dời, sư sãi, tùy theo v.v… Còn chữ Can 干 vốn đọc là Cành, do về sau phương Bắc không dùng nghĩa này nữa, có lẽ vì sợ người Việt nhận ra nguồn gốc của nó, nhưng ta có thể tìm thấy nét nghĩa này trong chữCan 竿 = Cây sào. Vì sao chữ Can 竿 với bộ trúc đầu lại có nghĩa là cây sào nếu như không phải vì chữ can 干 vốn có đọc là cành, nghĩa là cành cây, ở đây là cành trúc hay tre 竿 thì dài nên mới có nghĩa cây sào. Cũng chính vì chữ Can là cành nên khi bị gãy thì ngã nên chữ Ngọ 午còn có âm khác là ngũ , theo tôi xưa kia người Việt gọi là Ngã, vì vậy mà có từ Ngã ngũ. (Xem phần Bàn lại tên 12 địa chi)

Cái đanh thổi lửa.

Cái đanh là cái đinh = Can Đinh 丁 . Thổi lửa = Hỏa =  Ly = Phương Nam. Thổi là làm cho bùng lên, sáng lên, phát triển lên, ở đây có nghĩa là chuyển động hay biến dịch. Điều này cho thấy rằng người làm ra bài đồng dao này dựa trên Hậu Thiên Bát Quái.

Con ngựa mất cương.

Con ngựa là chi Ngọ 午thuộc chánh Nam. Mất cương nên nó chạy mãi không ngừng, hay gọi là biến, biến ở đây tức là Biến Dịch hay đó chính là cái dụng của Hậu Thiên Bát Quái.

Tam vương, ngũ đế.

Tam vương tức Tam Hoàng : Thiên hoàng – Địa hoàng – Nhân hoàng.

Ngũ Đế tức : Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ = 5 hành.

Bát qué đi tìm.

Bát qué tức Càn – Khảm – Cấn – Chấn – Tốn – Li – Khôn – Đoài. Đi tìm có nghĩa là động, là biến, vì hậu thiên bát quái là động đối lập với tiên thiên bát quái là tịnh, do biến động nên mới sinh sôi nảy nở muôn loài.

Con chim làm tổ.

Con chim này  là con chim Diệc về sau Phương Bắc gọi là Dịch, là tên của hệ thống triết lí vô cùng uyên áo của người Lạc Việt mà ngày nay ta gọi là Dịch học.

Ù à ù ập.

Tương đương với xuất xuất nhập nhập. Có nghĩa là Tám qué phối hợp, tương tác với nhau là thành 64 quẻ.

Lại (ngồi) sập xuống đây.

Ngồi sập xuống đây tức là ngồi xuống nơi mà người Việt bắt đầu hoàn thiện hệ thống Dịch lí của mình.“Đây” tức là phương Bắc. Có nghĩa là người Việt đã hoàn thiện lí thuyết ấy khi họ tiến lên phương Bắc.

Theo tôi bài đồng dao này được tạo ra nhằm lưu truyền lại nguồn gốc dịch học phát tích từ phương Nam. Chính vì vậy mà ngay ba câu đầu đã xác nhận điều ấy. Chi chi chành chành là địa chi và thiên can hay nói khác hơn là âm dương, Can Đinh thuộc Hỏa tức phương Nam, chi Ngọ thuộc phương Nam, có nghĩa rằng Dịch học là của người Nam làm ra. Vì nội dung bài đồng dao chủ yếu là khẳng định tác quyền dịch học nên chi các câu còn lại cũng nói về dịch học, mỗi câu đều thể hiện sự liên quan đến hệ thống dịch lí mà người Việt đã làm nên. Đồng thời do bắt đầu bằng phương Nam thì kết thúc bằng phương Bắc, hai đầu của Lạc thư. Phương Bắc đây không có nghĩa cố định, mà nó chỉ ra hướng phát triển của người Việt cổ từ hướng Nam đi lên, vì thế nó có thể là miền bắc Việt Nam mà cũng có thể ở sông Dương Tử hay Hoàng Hà. Việc bắt đầu bằng hướng Nam xảy ra trên nhiều lãnh vực khác như : Hỏa Phong Đỉnh, Hà đồ xếp hướng Nam lên trên. truyền thuyết Đầm xác cáo.

Tóm lại theo tôi bài đồng dao này chủ yếu nói về nguồn gốc của dịch học, cụ thể là Dịch học là do người phương Nam làm ra hay là do người Lạc Việt làm ra.

Viên Như

Link:  http://viennhu.vnweblogs.com/post/11641/454923

http://bookhunterclub.com/nguon-goc-dich-ly-trong-bai-dong-dao-chi-chi-chanh-chanh/

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: