Bản lĩnh phớt đời của Thị Kính – Đỗ Minh Tuấn

Thị Kính phớt đời mặc kệ lời ong tiếng ve, tự mình biết mình trong sáng để cuối cùng siêu thoát vào cõi Phật. Thị Mầu phớt đời bất chấp những chuẩn mực xã hội để dấn thân theo những mời gọi bản năng hưởng bữa tiệc đời. Ngay cả mẹ Đốp trong thân phận mõ của mình cũng phớt đời đến mức coi tất cả quyền lực hiện hành chỉ là thứ mà mình có thể giẫm đạp lên.

Những kẻ phớt đời trong chèo Quan Âm Thị Kính đều là những thiền sư – nghệ sỹ tìm kiếm siêu giải phóng bằng sự tự tin mãnh liệt nơi lẽ sống riêng…

Chèo Quan Âm Thị Kính vay mượn tích truyện từ Cao Ly, nhưng cũng như “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, sau khi trở thành một tác phẩm hoàn chỉnh của Việt Nam, nó hiện diện trong hồn cốt mà những tích truyện ban đầu chưa có. Những nhà nghiên cứu xưa nay thường chỉ khai thác từ Quan Âm Thị Kính chữ Nhẫn qua số phận Thị Kính hay thái độ dân chủ qua các mảng trò riêng rẽ về Thị Mầu lên chùa tán tỉnh chú tiểu Thị Kính và Mẹ Đốp mượn cớ giễu cợt các tiên chỉ trước mặt quan chức trong làng.

Nhưng cách tiếp cận như vậy mới chỉ dừng lại ở các cạnh khía bề nổi của tâm lý tôn giáo và tâm lý dân gian. Nhìn từ góc độ nhân học – văn hóa học, ta có thể thấy các nhân vật trong Quan Âm Thị Kính ở các cấp độ khác nhau, các hình  thái khác nhau, đã cùng mang một tâm lý ứng xử đặc thù Việt Nam là niềm tự tin vô hạn vào lẽ sống cao cả bên trong để ứng xử như những kẻ phớt đời trong những cảnh ngộ đầy trớ trêu, phi lý.

Vì sao Thị Kính chịu oan?

Cầm kéo cắt một cái râu mọc ngược cho chồng trong lúc chồng ngủ, Thị Kính mong cứu chồng khỏi một điềm gở, nhưng thiện chí, tình yêu đó lại đẩy nàng vào tội danh có âm mưu giết chồng. Giả trai lên chùa tu hành, Thị Kính bị Thị Mầu ve vãn rồi đổ oan cho tội phá giới, dâm gian với thị làm thị có con. Nhưng Thị Kính vẫn kiên nhẫn chịu đựng những oan ức này, mặc dù thừa khả năng thanh minh cho mình một cách hùng hồn và mau lẹ.

Vì sao vậy? Thị Kính nhìn bề ngoài có vẻ một minh hoạ cho triết lý “Tình là dây oan” của nhà Phật. Nhưng trong chiều sâu số phận của nàng bộc lộ cái run rẩy của người Việt trước một xã hội vô thường mà trong một khoảnh khắc thiện chí có thể là đầu mối của tội lỗi, oan khiên.

Thế giới trong tục ngữ Việt Nam bộc lộ rõ tâm thức văn hoá đầy tính bi quan của người Việt hình thành qua hàng ngàn năm phong kiến và nô lệ – đó là nỗi hoài nghi sâu thẳm trước một thế giới vô thường luôn luôn đùa cợt con người bằng những nghịch lý trớ trêu, những cảnh ngộ oái oăm: Thánh nhân đãi kẻ khù khờ, khôn độc không bằng ngốc đàn, làm phúc thì phải tội, cóc mò cò xơi, kẻ ăn ốc người đổ vỏ, tin bạn mất vợ, để là đất cất lên là bụt v.v…

Lịch sử nô lệ phong kiến hàng ngàn năm cũng dạy cho con người Việt Nam một thái độ không tin vào pháp lý: Con kiến mà kiện củ khoai, chờ được vạ thì má đã sưng, nén bạc đâm toạc tờ giấy. Chính tâm thức văn hoá bi quan về cõi đời phi lý, vô thường, phi chuẩn mực và đầy rẫy bất công đã khiến con người Việt Nam nhiều khi nhẫn nhục cam chịu, thậm chí chịu oan để thầm lặng kiên trì lẽ sống riêng. “Oan kia theo mãi với tình – Một mình mình biết một mình mình hay”. Không phải ngẫu nhiên, cái thái độ chịu oan một mình ấy lại được Nguyễn Du tuyên bố rõ trong “Truyện Kiều” thông qua một sứ giả của nhà Phật là vãi Giác Duyên.

Thái độ chấp nhận sống với nỗi oan đã trở thành một lựa chọn văn hoá của cả một cộng đồng qua bao nhiêu thăng trầm lịch sử. Trong sự chịu đựng của Thị Kính có nhiều tầng tâm lý và triết lý mang tính đặc thù của văn hoá Việt Nam, trong đó nổi bật lên tính bi quan trước lẽ vô thường của thế gian và niềm tự tin mãnh liệt của mỗi cá nhân vào giá trị của bản thân.

Bản lĩnh văn hóa của những kẻ phớt đời

Chấp nhận sống với diện mạo xấu xí mà cộng đồng tô vẽ cho mình, Thị Kính thể hiện một thái độ lưỡng cực của nhiều người Việt. Một mặt là bi quan, yếm thế, cầu an vì sợ rút dây động rừng, giải quyết được vấn nạn cụ thể này thì lại nảy sinh một vấn nạn khác trầm trọng hơn – chứng minh mình là gái giải được oan Thị Màu nhưng sẽ lại mắc phải tội giả hình nơi cửa Phật.

Mặt khác, trong sự chấp nhận này mang một bản lĩnh tâm lý đặc thù Việt Nam là thái độ thiền sư – nghệ sỹ tự tin nơi lẽ sống riêng, bất chấp những định danh, bình giá từ phía xã hội. Sự tự tin này có tính chất phớt đời này cũng thể hiện rõ trong các nhân vật như Thị Mầu, mẹ Đốp.

Thị Mầu lẳng lơ lên cửa Phật tán tỉnh “chú tiểu” Thị Kính ăn nằm với thằng Nô rồi đem đổ vạ cho Thị Kính – nhân vật mạnh mẽ này có vẻ là con người bản năng đối lập với Thị Kính, một con người lý trí. Nhưng khi Thị Mầu tuyên bố: “Lẳng lơ cũng chẳng có mòn/ chính duyên cũng chẳng sơn son để thờ” thị có vẻ tuyên ngôn cho một triết lý sống của dân gian, đạp đổ những đạo lý phong kiến mang tính đạo đức giả của tầng lớp nho sỹ quan lại trong xã hội đương thời.

Nhìn từ góc độ tâm thức văn hoá thì thái độ sống của Thị Kính và Thị Mầu có cùng bản chất: Không chấp những định kiến và quy ước của người đời miễn sao thực hiện lẽ sống riêng, tìm kiếm siêu giải phóng trong sự tự tin quyết liệt vào lẽ sống riêng mà mình đã chọn. Đó là thái độ phớt đời bộc lộ một bản lĩnh tâm lý chung của cộng đồng trong những cảnh huống và số phận khác nhau. –PageBreak–

Thị Kính phớt đời mặc kệ lời ong tiếng ve, mặc kệ các tội danh, tự mình biết mình trong sáng, vô tội là đã có đủ nghị lực sống, niềm vui sống và cuối cùng được siêu thoát vào cõi Phật trở thành Quan Âm Thị Kính. Thị Mầu phớt đời bất chấp những chuẩn mực xã hội dấn thân theo những mời gọi bản năng để hưởng bữa tiệc đời ở tất cả mọi lúc mọi nơi, kể cả nơi cấm kỵ.

Ngay cả một con người có vẻ dưới đáy như mẹ Đốp trong thân phận Mõ của mình cũng phớt đời đến mức coi tất cả quyền lực hiện hành chỉ là thứ mà mình có thể giẫm đạp lên, từ đó tìm thấy một sức mạnh giải phóng, một cơ hội đứng trên tất cả những bậc quyền thế cao sang khi lợi dụng mối liên hệ phục vụ các quan do thân phận xếp đặt để hạ nhục các quan chức – qua đó tạo lập nhân cách của mình đứng trên trật tự xã hội.

Thị Kính, Thị Mầu, Mẹ Đốp là ba số phận khác nhau, ba tính cách khác nhau thậm chí nhìn bề ngoài có vẻ trái ngược đối lập và thù địch nhưng đều mang một tâm lý chung trong dân gian, đặc thù Việt Nam, là tâm lý nổi loạn vô chính phủ, giải thiêng, tìm kiếm siêu giải phóng.

Nếu Thị Kính nổi loạn về triết học, coi tất cả diện mạo mà nhân thế choàng vào số phận mình không thiêng thì Thị Mầu nổi loạn về đạo đức, coi tất cả quy ước đạo đức của xã hội là vớ vẩn và mẹ Đốp nổi loạn về phương tiện xã hội coi tất cả trật tự pháp lý hiện hành chỉ là những trò hề đáng để mụ ngồi xổm lên trên.

Nét chung quán xuyến ba số phận này, ba cá tính này là một tâm thức văn hoá mang tính nghệ sỹ, siêu cá nhân một mặt kiên định lẽ sống riêng, phẩm cách riêng như một giá trị cao nhất, mặt khác, thừa nhận sự tồn tại của kẻ khác trong xã hội đa cực hỗn dung mà ở đó con người chủ yếu dựa vào những nguyên tắc dung hòa, giao thoa, cộng sinh để đồng tồn tại chứ không dựa vào những nguyên tắc tôn giáo, đạo đức hay pháp lý thường giả trá và biến động trong những thời nô lệ và phong kiến.

Nghệ sỹ – thiền sư và siêu giải phóng

Thái độ sống và tâm lý chiều sâu chi phối hành vi đặc thù Việt Nam thể hiện trong các nhân vật chèo Quan Âm Thị Kính có bản chất “thiền sư – nghệ sỹ” mà Suzuki đã có lần phân tích trong cuốn Thiền và phân tâm học. Theo Đ. Suzuki, người thiền sư tìm thấy ý nghĩa cho cuộc sống của mình theo cách riêng, từ đó tạo nên sức mạnh siêu thoát, vị tha, độc lập với hoàn cảnh. Quan điểm này của Đ. Suzuki có thể được vận dụng để cắt nghĩa thái độ sống khác biệt của con người Việt Nam xưa nay.

Người Việt tìm kiếm hạnh phúc của mình trong lẽ sống riêng tự mình xác định mà không quá lệ thuộc vào thể chế xã hội, do đó trong bất kỳ thể chế nào, dù độc tài hay dân chủ, tàn bạo hay nhân ái người dân Việt cũng chăm chú vào lẽ sống riêng nơi sâu thẳm linh hồn mình và đó là cách hư vô hoá thể chế xã hội, vượt thoát khỏi sức ép của nó.

Khi một thể chế xã hội tạo lập được một sự hoà nhịp các lẽ sống riêng, tạo nên lẽ sống chung của cả cộng đồng trong những cuộc kháng chiến giành độc lập, thì xã hội phơi phới thăng hoa, mỗi con người như được giải stress bằng một liệu pháp chính trị chung là tinh thần yêu nước.

Nhưng khi lịch sử không tạo cơ hội cho một lẽ sống chung trỗi dậy thường trực, thì xã hội đắm chìm trong những độc thoại của những lẽ sống riêng, mỗi người dân đều sống trong cơ chế tâm lý nghệ sỹ – thiền sư đã phân tích trên đây, chấp nhận cuộc đời để tạo lập một SIÊU GIẢI PHÓNG tìm kiếm hạnh phúc trong những gì mình có, không lệ thuộc vào những định danh chung, những chuẩn mực quy ước hiện hành mà chỉ nương theo những chuẩn mực quy ước đó như là sự đối phó với tính giả trá và tính bạo lực của chúng.

Trong một không gian giao thoa giữa đạo và đời, giữa bản năng và lý trí, giữa nô lệ và tự do, giữa tội lỗi và đức hạnh, chèo Quan Âm Thị Kính đã phát lộ một cách sinh động và sâu sắc bản lĩnh văn hoá Việt Nam, góp phần cắt nghĩa những nội lực văn hóa giúp dân tộc ta vượt qua những cảnh ngộ lịch sử trớ trêu để vừa nhẫn nhục chịu đựng, vừa linh hoạt thỏa hiệp vừa kiên định bảo vệ đến cùng những lẽ sống quyền sống của chính mình./.

Link:  http://vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa3/nh%E1%BB%AFng-g%C3%B3c-nh%C3%ACn-v%C4%83n-h%C3%B3a/ban-linh-phot-doi-cua-thi-kinh

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: